Chương 1 MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Mục đích, vai trò của hoạt động thanh tra đối với DNNN 1. Khái niệm thanh tra và vị trí, vai trò của DNNN trong nền kinh tế 1. Khái niệm thanh tra Ngày nay, các khái niệm giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm kê và kiểm soát được sử dụng phổ biến trong hoạt động quản lý nói chung và trong quản lý nhà nước nói riêng.
Về hình thức đây là những khái niệm khác nhau, nhưng về nội dung lại có một sự giao thoa rất lớn. Chính vì vậy, mà cách sử dụng các khái niệm này cũng rất phong phú và đa dạng. Việc dùng khái niệm nào là tuỳ thuộc vào mục đích, tính chất và hoàn cảnh cụ thể để sử dụng cho phù hợp. Thanh tra (tiếng Anh là inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định” [54, tr.
Theo từ điển Tiếng Việt, nghĩa thứ nhất thanh tra là điều tra, xem xét để làm rõ vụ việc; nghĩa thứ hai là chỉ người làm nhiệm vụ thanh tra [45, tr. Theo khái niệm này, người làm nhiệm vụ thanh tra phải điều tra, xem xét để làm rõ vụ việc. Như vậy, khái niệm này bao gồm: chủ thể thanh tra, phương pháp thanh tra, mục đích thanh tra và nội dung thanh tra. Nhưng chủ thể, vụ việc ở đây chưa được rõ ràng.
Theo giáo trình Nghiệp vụ thanh tra: “nghĩa thứ nhất thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp; nghĩa thứ hai chỉ nghề nghiệp, tên gọi chức danh như người làm nhiệm vụ thanh tra, Đoàn 7 thanh tra của Bộ… Thanh tra có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng nhất định” [41, tr. Như vậy, nội hàm của khái niệm mà giáo trình đề cập đã được mở rộng và rõ ràng hơn. Thanh tra là một hoạt động quản lý của nhà nước. Các cơ quan nhà nước là chủ thể thanh tra và người được uỷ quyền trực tiếp tiến hành các cuộc thanh tra là Đoàn thanh tra.
Nội dung và đối tượng thanh tra là việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp. Phương pháp hay cách thức tổ chức thực hiện là kiểm soát, xem xét và thực hiện tại chỗ, trực tiếp tại đơn vị được thanh tra. Và mục đích là nhằm phục vụ cho quản lý đạt được hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, khái niệm cũng đề cập đến vị trí của chủ thể thanh tra nằm ở bên ngoài đối tượng thanh tra.
Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước "Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước" của cơ quan Thanh tra Nhà nước, có viết: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các sai phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân” [54, tr. Theo khái niệm trên, nội dung đã được trình bày đầy đủ hơn, rõ nét hơn, chi tiết hơn và phạm vi cũng rộng hơn. Ngoài những nội dung cơ bản mà các khái niệm đã đề cập, khái niệm này còn đưa thêm một vấn đề mới và nhấn mạnh thêm, đi sâu hơn và cụ thể hơn một số vấn đề sau: Thanh tra không chỉ là một hoạt động quản lý của nhà nước mà nó “là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước”. Chủ thể thanh tra cũng cụ thể hơn, nó “thường được thực hiện bởi các cơ quan chuyên trách”.
Về nội dung và đối tượng thanh tra khái niệm lại thiên về tính khái quát, tổng hợp, tức là “kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân”. Phương pháp 8 hay cách thức tổ chức thực hiện cũng là “kiểm tra, xem xét” nhưng phạm vi thì đã được mở rộng hơn, không chỉ “thực hiện tại chỗ, trực tiếp tại địa phương, cơ quan hay xí nghiệp được thanh tra” mà có thể thực hiện ở cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Khái niệm còn đưa ra một vấn đề rất mới, đó là quy trình tổ chức thực hiện, là phải tuân theo “một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”. Đặc biệt, khái niệm này còn đề cập rất cụ thể đến mục đích của hoạt động thanh tra.
Theo Điều 4 của Luật Thanh tra (2004): “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật” [14, tr. So với các khái niệm trên, khái niện này đã thể hiện tương đối đầy về nội dung và mang tính khái quát hơn, nó đã khắc phục được những hạn chế của các khái niệm trên. Tóm lại: Do nội hàm của khái niệm thanh tra rộng và cách tiếp cận khác nhau, cho nên còn có sự nhận thức khác nhau về khái niệm thanh tra là một tất yếu khách quan. Thông qua việc phân tích các khái niệm trên, có thể rút ra một số vấn đề chủ yếu sau: - Thanh tra là một loại hoạt động của quản lý nhà nước, là một chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lý nhà nước.
- Chủ thể thanh tra là các cơ quan nhà nước, việc tổ chức tiến hành các cuộc thanh tra thường do các các tổ chức thanh tra thực hiện mà trực tiếp là Đoàn thanh tra hoặc các Thanh tra viên. - Đối tượng thanh tra là việc làm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân. - Nội dung thanh tra là việc chấp hành chính sách, pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ và các chế độ, quy định của Nhà nước. - Phương pháp thanh tra chủ yếu là kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, xem xét và có thể phải dùng cả điều tra, giám sát… và tuân theo một trình tự thủ tục nhất định do pháp luật quy định.
9 - Mục đích của thanh tra là nhằm phục vụ cho quản lý và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước. Như vậy, Thanh tra là sự xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế - Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp nhà nước Ơ nước ta trước đây, DNNN thường được hiểu là kinh tế nhà nước hay còn gọi là kinh tế quốc doanh hoặc xí nghiệp quốc doanh. Ngày nay, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), khái niệm DNNN được định pháp như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” [13, tr.
DNNN gồm có hai loại hình cơ bản: các DN hoạt động kinh doanh và các DN hoạt động công ích. Ngoài ra, còn có các DN nằm giữa hai loại hình cơ bản này. Tuy nhiên, tuỳ theo từng loại DN mà Nhà nước cung cấp toàn bộ hoặc góp vốn hoặc góp cổ phần… Nếu Nhà nước có số cổ phần trong các DN này lớn hơn các thành phần kinh tế khác, thì Nhà nước sẽ nắm số cổ phần chi phối hay cổ phần đặc biệt của các DN này. - Vị trí của doanh nghiệp nhà nước Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định: Kinh tế nhà nước là một trong sáu thành phần kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân, “Kinh tế nhà nước, theo nghĩa đầy đủ bao gồm toàn bộ đất đai, tài nguyên, ngân sách nhà nước, ngân hàng nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ của Nhà nước và DNNN” [6, 146].
Như vậy, DNNN là một bộ phận quan trọng, cơ bản của kinh tế nhà nước, được Nhà nước giao nắm giữ những vị trí then chốt, trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân, là lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện những chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn. 10 - Vai trò của doanh nghiệp nhà nước DNNN có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận chủ yếu của kinh tế nhà nước và cùng với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Ơ nước ta, các DNNN đang chiếm giữ những vị trí then chốt, những ngành kinh tế mũi nhọn và những ngành kinh tế chủ yếu của đất nước. Nó là lực lượng chủ lực trong hội nhập quốc tế, trong liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác.
Cho nên, thông qua việc liên doanh, liên kết Nhà nước sẽ kiểm soát và định hướng hoạt động của các DN này theo quỹ đạo chung của nhà nước. Với sức mạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật, đi đầu trong ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đội ngũ lao động và quản lý được đạo đào tạo chính quy; cho nên các DNNN đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ trong xã hội, hướng dẫn, hỗ trợ và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng XHCN. Với tư cách là công cụ, là lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, DNNN đã sản xuất ra một khối lượng lớn của cải vật chất cho xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định và tăng trưởng kinh tế, hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường như: chống độc quyền, ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu, ổn định thị trường tiền tệ… kích thích cung cầu nhằm lập lại những cân đối lớn trong nền kinh tế để thị trường phát triển lành mạnh và có hiệu quả.