Sự cần thiết hoàn thiện hệ thống quản lý khoa học và công nghệ cấp huyện tại Lạng Sơn

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu sự cần thiết hoàn thiện hệ thống quản lý khoa học và công nghệ cấp huyện nghiên cứu trường hợp ở, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý KH&CN

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quản lý KH CN cấp Huyện tại Lạng Sơn

Khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng khẳng định vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng này. Nghị quyết 37-NQ/TW nhấn mạnh sự gắn kết giữa KH&CN với sản xuất và đời sống. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hoạt động KH&CN trên địa bàn cấp huyện ngày càng đóng vai trò quan trọng. Hoàn thiện công tác quản lý KH&CN cấp huyện trở thành yêu cầu cấp bách, góp phần nâng cao hiệu quả chuyển giao kỹ thuật cho người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Bài viết này tập trung vào việc phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện tại Lạng Sơn, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Việc chuyển giao kỹ thuật tiến bộ là yếu tố then chốt.

1.1. Vai trò KH CN cấp Huyện trong Phát triển Kinh tế Xã hội

KH&CN đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ ở cấp huyện. Ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giúp tăng thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống kinh tế - xã hội. Việc quản lý hiệu quả KH&CN cấp huyện tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ mới, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa như Lạng Sơn.

1.2. Thực trạng Hoạt động KH CN tại Lạng Sơn Hiện nay

Hoạt động KH&CN tại Lạng Sơn đã có những đóng góp tích cực vào phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là trong xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, việc chuyển giao kỹ thuật tiến bộ còn hạn chế, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện còn nhiều bất cập. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện là vô cùng cần thiết. Cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp để thúc đẩy hoạt động KH&CN.

II. Thách thức trong Quản lý KH CN cấp Huyện tại Lạng Sơn

Hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện tại Lạng Sơn đối mặt với nhiều thách thức. Nguồn nhân lực còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thiếu thốn. Cơ chế chính sách chưa đủ mạnh để khuyến khích hoạt động KH&CN. Sự phối hợp giữa các ban ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Nhận thức về vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội của một số cán bộ và người dân còn hạn chế. Những thách thức này cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả quản lý KH&CN cấp huyện. Cần có sự đầu tư thích đáng vào nguồn nhân lực và cơ sở vật chất.

2.1. Nguồn Nhân lực và Cơ sở Vật chất còn Thiếu Thốn

Số lượng cán bộ quản lý KH&CN cấp huyện còn ít, trình độ chuyên môn chưa cao, kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN còn thiếu thốn, lạc hậu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng triển khai các hoạt động KH&CN một cách hiệu quả. Cần có chính sách thu hút và đào tạo cán bộ KH&CN.

2.2. Cơ Chế Chính sách và Phối hợp Liên ngành chưa Hiệu quả

Cơ chế chính sách khuyến khích hoạt động KH&CN còn thiếu tính đồng bộ, chưa đủ mạnh để tạo động lực cho các tổ chức, cá nhân tham gia. Sự phối hợp giữa các ban ngành, địa phương trong việc triển khai các chương trình, dự án KH&CN chưa chặt chẽ, còn chồng chéo, gây khó khăn cho việc thực hiện. Cần rà soát và hoàn thiện cơ chế chính sách.

2.3. Nhận thức về KH CN còn Hạn chế ở Cấp Cơ sở

Một bộ phận cán bộ và người dân chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội. Tư duy sản xuất còn lạc hậu, ngại đổi mới, tiếp thu công nghệ mới. Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN chưa được quan tâm đúng mức. Cần tăng cường tuyên truyền và đào tạo về KH&CN.

III. Giải pháp Hoàn thiện Tổ chức Quản lý KH CN cấp Huyện

Để hoàn thiện hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện tại Lạng Sơn, cần tập trung vào các giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, cơ chế chính sách và cơ sở vật chất. Cần kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý KH&CN cấp huyện theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo, bồi dưỡng. Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích hoạt động KH&CN. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động KH&CN. Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức KH&CN trong và ngoài tỉnh. Hợp tác và đầu tư là yếu tố quan trọng.

3.1. Kiện toàn Tổ chức Bộ máy Quản lý KH CN cấp Huyện

Cần rà soát, đánh giá lại tổ chức bộ máy quản lý KH&CN cấp huyện để có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Thành lập phòng/ban KH&CN độc lập hoặc tăng cường biên chế cho cán bộ chuyên trách về KH&CN. Phân công rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng bộ phận, cá nhân. Xây dựng quy chế hoạt động khoa học, rõ ràng, minh bạch. Tổ chức phải tinh gọn và hiệu quả.

3.2. Nâng cao Chất lượng Nguồn Nhân lực Quản lý KH CN

Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý KH&CN. Tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn KH&CN để học hỏi kinh nghiệm. Thu hút cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn cao về công tác tại các cơ quan quản lý KH&CN cấp huyện. Đảm bảo đào tạo thường xuyên và chuyên sâu.

3.3. Phát triển Hệ thống Thông tin và Thống kê KH CN Hiệu quả

Xây dựng hệ thống thông tin KH&CN cấp huyện, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về các chủ trương, chính sách, các tiến bộ KH&CN, các kết quả nghiên cứu khoa học. Thống kê đầy đủ, chính xác các hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành hoạt động KH&CN. Thông tin minh bạch và chính xác là yếu tố then chốt.

IV. Cơ chế chính sách thúc đẩy KH CN cấp Huyện tại LS

Để hoạt động khoa học công nghệ tại Lạng Sơn phát triển và phát huy được hết vai trò, cần xây dựng và hoàn thiện một cơ chế chính sách phù hợp. Cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN. Chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN. Chính sách khen thưởng, động viên các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động KH&CN. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN để tiếp thu các công nghệ tiên tiến. Chính sách và hợp tác song hành.

4.1. Đa dạng hóa nguồn Tài chính cho Hoạt động KH CN

Ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, cần huy động các nguồn vốn từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Xây dựng quỹ KH&CN cấp huyện. Khuyến khích các doanh nghiệp thành lập quỹ phát triển KH&CN. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào KH&CN. Cần huy động nhiều nguồn lực tài chính.

4.2. Tạo Môi trường thuận lợi cho Doanh nghiệp KH CN

Ưu đãi thuế, tiền thuê đất cho các doanh nghiệp KH&CN. Hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN trong việc tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp KH&CN tham gia các chương trình, dự án KH&CN của nhà nước. Ưu đãi và hỗ trợ doanh nghiệp.

V. Ứng dụng KH CN vào Sản xuất Nông Lâm nghiệp tại LS

Ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông, lâm nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện. Cần chuyển giao các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao. Ứng dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường. Phát triển các sản phẩm nông, lâm nghiệp có giá trị gia tăng cao. Xây dựng các mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng bền vững. Ứng dụng và phát triển là chìa khóa.

5.1. Chuyển giao Công nghệ và Giống mới cho Nông dân

Tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo, trình diễn kỹ thuật để chuyển giao các công nghệ và giống mới cho nông dân. Xây dựng các mô hình trình diễn để nông dân học hỏi kinh nghiệm. Hỗ trợ nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Chuyển giao và hỗ trợ là cần thiết.

5.2. Phát triển Sản phẩm Nông Lâm nghiệp có Giá trị Gia tăng

Hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào chế biến, bảo quản nông, lâm sản. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông, lâm nghiệp đặc trưng của địa phương. Phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái. Chế biến và xây dựng thương hiệu.

VI. Kết luận và Kiến nghị Hoàn thiện Quản lý KH CN ở LS

Hoàn thiện hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện tại Lạng Sơn là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp, các ngành. Cần có sự đồng bộ giữa các giải pháp về tổ chức, nhân lực, cơ chế chính sách và cơ sở vật chất. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các ban ngành, địa phương trong việc triển khai các hoạt động KH&CN. Cần nâng cao nhận thức về vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội của cán bộ và người dân. Đồng bộ và nhận thức là yếu tố then chốt.

6.1. Tăng cường Phối hợp và Tuyên truyền về KH CN

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về KH&CN. Nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc thúc đẩy hoạt động KH&CN. Tuyên truyền rộng rãi và phối hợp chặt chẽ.

6.2. Tiếp tục Nghiên cứu và Đánh giá Hiệu quả Quản lý KH CN

Thường xuyên đánh giá hiệu quả của hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp mới để nâng cao hiệu quả quản lý KH&CN. Xây dựng cơ sở dữ liệu về KH&CN để phục vụ công tác quản lý, điều hành. Nghiên cứu và đánh giá liên tục.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ KH&CN. Vấn đề hoàn thiện hệ thống quản lý KH&CN ở huyện, thị liên quan tới một số khái niệm như: Hệ thống, quản lý, quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN, hoạt động KH&CN, hoạt động quản lý KH&CN. Mỗi khái niệm trên đã có rất nhiều phân tích về nội hàm và ngoại diên, mặt khác trong khuôn khổ luận văn này có hạn, do đó luận văn sẽ đưa ra định nghĩa của khái niệm, đặt chúng trong một hệ thống các khái niệm để làm rõ khái niệm cơ bản của luận văn là "Hệ thống Quản lý KH&CN cấp huyện", và nhấn mạnh đến hiện trạng của hoạt động của hệ thống quản lý KH&CN cấp huyện. Một số khái niệm cơ bản về Hệ thống, Quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về KH&CN.

Quan niệm về hệ thống. - Hệ thống không phải là khái niệm nguyên thủy, nghĩa là chúng ta có thể dùng những khái niệm đã biết để định nghĩa thế nào là hệ thống, nhưng hệ thống là khái niệm được nghiên cứu và ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nên việc nêu lên một định nghĩa hình thức hóa về hệ thống, có đủ tính khái quát để có thể áp dụng trong những lĩnh vực khác nhau là một việc vô cùng khó khăn. Vì lẽ đó và cũng để có thể thấy được hết những khía cạnh phức tạp và những vấn đề tinh tế trong quá trình xác định một hệ thống, thay vì định nghĩa hệ thống chúng ta mô tả hệ thống là một giải pháp thích hợp. Ta có thể xét hệ thống nhân tạo, nghĩa là một hệ thống do con người thiết kế và chế tạo ra, ví dụ một chiếc đồng hồ, một chiếc xe máy, hay một chiếc ti vi, thì định nghĩa sau đây là hoàn toàn thích hợp: " Hệ thống là tập hợp những phần tử liên kết với nhau một cách rất chặt chẽ thành một nhất thể, nhằm thực hiện được một số chức năng nhất (LUAN.son) 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

(Trang 5; Lý thuyết hệ thống và điều khiển học của PGS. Nguyễn Địch; Viện đại học Mở Hà Nội). Còn trong hệ thống quản lý, chẳng hạn như hệ thống các cơ quan hành chính của nước ta có 4 cấp: Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố, UBND huyện và quận, UBND xã, phường. Trong khoa học quản lý vấn đề phân cấp luôn là vấn đề phức tạp.

Sự phân cấp chồng chéo sẽ làm cho hệ thống con trong quá trình vận hành sẽ dẫm đạp lên nhau, cản trở lẫn nhau gây nên những rối loạn trong quản lý, sự phân cấp hợp lý cùng với việc tổ chức bộ máy thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của hệ thống quản lý. Các yếu tố tạo nên hệ thống như các phần tử, hệ thống con, sự liên kết giữa các phần tử và một số vấn đề liên quan cũng là những khái niệm rất tinh tế, đa dạng và phức tạp không kém gì khái niệm về hệ thống, do đó để tránh những suy diễn lệch lạc có thể dẫn đến những nhận định sai lầm trong quá trình nghiên cứu, chúng ta cần tuân thủ nghiêm túc những nguyên tắc mà ta gọi là những nguyên lý tiếp cận hệ thống. Như trên đã nói Hệ thống là một khái niệm rất tinh tế, đa dạng, phức tạp và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu cụ thể, người ta lựa chọn một định nghĩa thích hợp về hệ thống, lược bỏ đi một số khía cạnh không có ý nghĩa hoặc không có ảnh hưởng lớn đến vấn đề nghiên cứu giúp cho việc trình bày và suy luận dễ dàng hơn và sáng sủa hơn.

- Khái niệm Hệ thống theo PGS. Vũ Cao Đàm, Trường đại học KHXN&NV Hà Nội: " Hệ thống là tập hợp các phần tử có liên hệ tương tác trong một môi trường xác định nhằm thực hiện một mục tiêu (Hoặc một số mục tiêu) đã định trước".son) 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về quản lý. Một số quan niệm về quản lý.

Có thể nói tư tưởng về quản lý đã xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, tuy nhiên khoa học quản lý với tư cách là một khoa học độc lập, một hệ thống tri thức về quản lý thì chỉ mới ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. - Học thuyết quản lý khoa học theo (Frederick Winslow Taylor, 1856 - 1915), Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó, hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. - Theo Thuyết quản lý hành chính (Henry Fayol, 1841 - 1925), Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp với kiểm tra. - Theo Thuyết quản lý tổ chức (Chester Irwing Barnard, 1886 - 1961), Quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định; nó có tính hệ thống và mục đích của nó là làm tăng sức mạnh hệ thống của một tổ chức.

- Theo các thuyết văn hoá quản lý (từ cuối những năm 70), quản lý không những là việc tạo ra cơ cấu và công nghệ, mà còn là việc sáng tạo ra những biểu tượng, hệ tư tưởng, ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghi lễ và những huyền thoại. Khái niệm về quản lý: Từ các điểm chung nhất của các cách tìm hiểu khác nhau về quản lý như đã nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.son) 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.son) a) Các yếu tố cấu thành hoạt động quản lý: - Chủ thể quản lý là trả lời câu hỏi: Do tổ chức nào? do ai quản lý? - Đối tượng quản lý (Khách thể quản lý) là: Quản lý tổ chức nào? quản lý ai? quản lý cái gì? - Mục đích quản lý là: Quản lý vì cái gì? nhằm đạt mục đích gì? hiệu quả kinh tế-xã hội như thế nào? - Môi trường và điều kiện quản lý là: Quản lý trong điều kiện, hoàn cảnh nào? (không gian, thời gian, địa điểm, phạm vi.); Hệ thống cơ chế, chính sách? - Phương tiện quản lý là: Sử dụng các công cụ, phương tiện gì để quản lý? Hình 1: Sơ đồ lôgic của khái niệm quản lý b) Bản chất của quản lý: (LUAN.son) 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.son) Có thể nói quản lý là một loại hình lao động đặc biệt, là siêu lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình lao động cụ thể làm đối tượng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực, từ đó tạo nên một sức mạnh chung của một tổ chức. Vì vậy, quản lý vừa có những đặc điểm chung, có quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thể khác, vừa có tính độc lập tương đối và mang những đặc trưng riêng của nó. Chúng ta biết rằng, con người chỉ có thể tồn tại và phát triển thông qua hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu nhất định.

Bất kỳ hoạt động nào cũng được tiến hành theo quy trình: Chủ thể (con người có ý thức) sử dụng những công cụ, phương tiện và các cách thức nhất định để tác động và đối tượng (tự nhiên, xã hội và tư duy) trong một môi trường nhất định, ở một phạm vi không gian và thời gian nhất định, nhằm đạt tới mục tiêu xác định với hiệu quả mong muốn. Tính đặc thù của hoạt động quản lý so với hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện trên tất cả các phương diện: chủ thể, đối tượng, công cụ, phương tiện, cách thức tác động và mục tiêu. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất vật chất có ý nghĩa tương đối và chỉ tồn tại trong lĩnh vực nhận thức. Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động chung của con người và vì vậy, nó là hoạt động mang tính phổ quát.

Từ những nhận định ở trên, kế thừa những nhân tố hợp lý của các tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý, có thể hiểu về quản lý, đó là các tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến đổi của môi trường. Như vậy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau: + Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến.son) 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.son) + Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người. + Quản lý là tác động có ý thức. + Quản lý là tác động bằng quyền lực.

+ Quản lý là tác động theo quy trình (Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra. + Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực. + Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung. + Quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.

Hình 2: Sơ đồ đặc trưng cơ bản của quản lý c) Vai trò của quản lý: Có thể nói quản lý có các vai trò như sau: - Một là: Vai trò định hướng: Vai trò định hướng của hoạt động quản lý được biểu hiện chủ yếu thông qua chức năng lập kế hoạch. - Hai là: Vai trò thiết kế: (LUAN.son) 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.son) Vai trò thiết kế liên quan tới các nội dung: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định biên chế, phân công công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực khác. Thực hiện tốt những nội dung này là tiền đề và điều kiện đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động quản lý. - Ba là: Vai trò duy trì và thúc đẩy: Vì là có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) nên bắt buộc chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền lực và thẩm quyền của họ làm ổn định, bền vững một tổ chức.

Mặt khác, thông qua hệ thống chính sách về nhân lực, tài lực, tin lực phù hợp và phong cách quản lý, lãnh đạo hợp lý, đã tạo ra động cơ thúc đẩy phát huy cao nhất năng lực của người lao động và tạo điều kiện cho họ khả năng sáng tạo cao nhất. - Thứ tư là: Vai trò điều chỉnh: Thông qua chức năng kiểm tra, giám sát mà hoạt động quản lý thể hiện vai trò điều chỉnh của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ