CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam phát triển với mức độ tăng trưởng ngày càng cao và đa dạng về hình thức kinh doanh, đặc biệt với quá trình đẩy nhanh việc vốn hoá thị trường vốn của môi trường kinh doanh tại Việt Nam, các nhà đầu tư vốn đã và đang dần tách rời khỏi vai trò quản lý doanh nghiệp. Mặt khác, ở Việt Nam, Kiểm soát nội bộ đã tồn tại và phát triển nhưng phần lớn còn tồn tại nhiều yếu kém, chưa phát huy hết vai trò công cụ quản lý của doanh nghiệp. Chính vì vậy, xây dựng hệ thống Kiểm soát nội bộ vững mạnh đang là một nhu cầu bức thiết, một công cụ tối ưu để xác định sự an toàn của nguồn vốn đầu tư, xác định hiệu quả điều hành của Ban Giám đốc doanh nghiệp cũng như kịp thời nắm bắt hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ 1.1 Theo báo cáo COSO 1992 Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quá trình bị chi phối bởi Ban Giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau: - Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động - Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính - Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành Định nghĩa trên chủ yếu liên quan đến các khái niệm: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu: KSNB là một quá trình: Kiểm soát nội bộ không chỉ là một sự kiện hay hoàn cảnh nào đó mà là một chuỗi các hoạt động tồn tại trong doanh nghiệp. Những hoạt động này lan tỏa trong doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Nó là phương tiện giúp cho các doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đề ra. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Quá trình kinh doanh được kiểm soát bên trong hoặc xuyên suốt các bộ phận và các hoạt động của tổ chức. Quá trình này được kiểm soát thông qua quy trình kiểm soát cơ bản: lập kế hoạch, ra quyết định và kiểm soát. KSNB là một phần của quá trình này và hợp thành một thể thống nhất với chúng.
KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải như một sự bổ sung vào hoạt động của công ty, hoặc là gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. KSNB phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình. Nhân tố con người: KSNB bị chi phối bởi con người trong tổ chức (bao gồm: Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên). Con người đặt ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng đến các mục tiêu đã đề ra.
KSNB cũng tác động đến hành động của con người. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và sự ưu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi và hành động một cách nhất quán. KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức. Đảm bảo hợp lý: KSNB có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý và ban giám đốc trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống KSNB như: sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên hệ thống KSNB. Các mục tiêu: Mỗi doanh nghiệp phải đặt ra mục tiêu hoặc chiến lược mà mình cần đạt tới. Mục tiêu đặt ra bao gồm: mục tiêu chung cho toàn công ty và mục tiêu riêng cho từng hoạt động, bộ phận trong doanh nghiệp. Mục tiêu có thể chia thành 3 loại dưới đây.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 - Mục tiêu về hoạt động: liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp có hiệu quả và hữu hiệu. - Mục tiêu về báo cáo tài chính: liên quan đến tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính. - Mục tiêu về sự tuân thủ: liên quan đến việc tuân thủ các quy định và pháp luật của doanh nghiệp. Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì một mục tiêu cụ thể có thể liên quan đến một hay nhiều loại trong ba nhóm mục tiêu trên.
Sự phân chia này chủ yếu dựa vào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với hệ thống KSNB của doanh nghiệp: nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu của đơn vị là chính; nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của cổ đông, nhà đầu tư và chủ nợ; nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan quản lý.2 Theo báo cáo COSO 2004 Hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu cũng chỉ nhằm kiểm soát những rủi ro trong doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra, đưa doanh nghiệp ngày càng đi lên. Vì vậy, COSO đã phát triển Báo cáo Kiểm soát nội bộ năm 1992 thành Báo cáo Quản trị rủi doanh nghiệp vào năm 2004. Quản trị rủi ro doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình, chịu sự chi phối của Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của doanh nghiệp, được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn doanh nghiệp và áp dụng cho các cấp độ trong doanh nghiệp, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được của rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý hướng đến việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Quản lý rủi ro doanh nghiệp là: - Một quá trình, đang phát triển và xuyên suốt một doanh nghiệp.
- Chịu sự chi phối của các nhân viên ở mọi cấp độ trong tổ chức. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 - Tác động đến việc thiết lập mục tiêu - Tác động xuyên suốt doanh nghiệp ở mỗi mức độ và mỗi bộ phận, và bao gồm cả việc xem xét mức độ rủi ro của một danh mục đầu tư. - Nhận dạng các sự kiện tiềm tàng mà nếu nó xảy ra sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp và quản lý rủi ro trong khả năng rủi ro của nó. - Có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý doanh nghiệp và ban giám đốc.
- Hướng đến những mục tiêu không những trong một hoặc nhiều bộ phận mà còn trong những bộ phận chồng chéo lên nhau.3 So sánh COSO 1992 và COSO 2004 Bảng 1.1: So sánh COSO 1992 và COSO 2004 COSO 1992 COSO 2004 Tên gọi Internal Control – Intergrated Enterprise Risk Management Framework (Kiểm soát nội - Intergrated Framework bộ) (Quản lý rủi ro doanh nghiệp) Định nghĩa - là một quá trình, chịu sự chi - là một quá trình, chịu sự chi phối của ban giám đốc, nhà phối của ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của quản lý và các nhân viên của doanh nghiệp doanh nghiệp - được thiết kế để cung cấp - Có thể cung cấp một sự đảm một sự đảm bảo hợp lý bảo hợp lý cho các nhà quản lý doanh nghiệp và ban giám đốc. - là phương tiện nhằm đạt - Tác động trong việc thiết lập được các mục tiêu sau: mục tiêu + sự hữu hiệu và hiệu quả của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 hoạt động + sự tin cậy của báo cáo tài chính + sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành - Tác động xuyên suốt doanh nghiệp ở mỗi mức độ và mỗi bộ phận, và bao gồm cả việc xem xét mức độ rủi ro của một danh mục đầu tư. - Nhận dạng các sự kiện tiềm tàng mà nếu nó xảy ra sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp và quản lý rủi ro trong khả năng rủi ro của nó. - Hướng đến những mục tiêu không những trong một hoặc nhiều bộ phận mà còn trong những bộ phận chồng chéo lên nhau.
Môi trường kiểm soát 1. Môi trường kiểm soát cấu thành 2. Thiết lập mục tiêu 3. Nhận dạng các sự kiện 2.
Đánh giá rủi ro 4. Đánh giá rủi ro 5. Đối phó với rủi ro 3. Hoạt động kiểm soát 6.
Hoạt động kiểm soát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thông tin và truyền thông 5. Thông tin và truyền thông 8.2 Các nhân tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát tạo ra sắc thái chung trong đơn vị - nơi mỗi người tiến hành các hoạt động và thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình. Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của KSNB.
Những nhân tố của môi trường kiểm soát theo báo cáo COSO 2004 bao gồm: 1.1 Tính chính trực và các giá trị đạo đức Mục tiêu của doanh nghiệp và cách mà doanh nghiệp đạt được mục tiêu dựa vào sự ưu tiên, óc phán đoán và phong cách quản lý. Sự ưu tiên, óc phán đoán được chuyển thành chuẩn mực của hành vi, phản ánh tính chính trực của nhà quản lý và những giá trị đạo đức. Danh tiếng của doanh nghiệp rất quan trọng, vì vậy, chúng ta cần quy định thành luật lệ các chuẩn mực hành vi của con người để tạo thành nét văn hoá riêng trong công ty. Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc trực tiếp vào tính chính trực và các giá trị đạo đức của những thành viên liên quan đến quá trình kiểm soát.
Tính chính trực và các giá trị đạo đức là yếu tố chính của môi trường kiểm soát, nó tác động đến các thành phần khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Tính chính trực trước hết là một hành vi đạo đức trong tất cả mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh. Theo báo cáo của hội đồng Treadway “ Một môi trường đạo đức tốt ở tất cả mọi cấp độ của một công ty là điều kiện sống còn để công ty tiến xa hơn nữa. Môi trường góp phần quan trọng làm nên tính hiệu quả của công ty và hệ thống KSNB, và giúp tạo ra các hành vi ảnh hưởng không phụ thuộc vào ngay cả hệ thống kiểm soát nội bộ tinh vi nhất.