CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1.1 Khái quát chung về kiểm soát nội bộ Khi các doanh nghiệp phát triển và mở rộng thì vấn đề đặt ra là làm sao để kiểm soát và quản lý của doanh nghiệp đặt ra càng cấp thiêt hơn bao giờ hết. Doanh nghiệp càng có quy mô lớn thì đi kèm với nó là giá trị tài sản lớn, số lượng con người lớn, bộ máy quản lý và phân cấp chuyên môn nhiệm vụ cũng khác nhau. Vì thế nếu không quản lý tốt thì sẽ dẫn đến nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Có 4 nội dung cụ thể sau: KSNB là một quá trình: Nó bao gồm từ khâu lập kế hoạch, vạch ra các bước để thực hiện kế hoạch , trong quá trình thực hiện kế hoạch phải luôn luôn giám sát, kiểm tra, nếu có thay đổi phải điều chỉnh kế hoạch.
Cuối cùng là đánh giá kết quả từ đó rút ra kinh nghiệm. Để có được kết quả như kế hoạch đề ra, theo đúng mong muốn, đơn vị cần kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện ở tất cả các khâu trong quy trình một cách thường xuyên, liên tục và là nội dung hoạt động cơ bản của đơn vị. KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Con người là chủ thể xuyên suốt cả quá trình, từ khâu xây dựng kế hoạch mục tiêu, đưa ra các giải pháp thực hiện, các mục tiêu nhỏ cần đạt được để tiến tới đạt được mục tiêu lớn. Mỗi con người là một cá thể độc lập, có suy nghĩ, khả năng, chuyên môn và cách thức thực hiện công việc riêng.
Vì thể để KSNB đạt hiệu quả rất cần một bộ phận chung để đưa ra các quy chuẩn cho công việc, nhiệm vụ của từng cả nhân, từng phòng ban. KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho người quản lý: Đối với người quản lý luôn luôn phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí bỏ ra. KSNB hiệu quả sẽ có h 8 thể phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp, hoặc giảm thiểu tổn thất nếu có, nhưng nó không thể đảm bảo rằng có KSNB thì sẽ luôn thực hiện được kế hoạch đã đề ra. Chính vì vậy nhiều nhà quản lý vẫn nhận thức được vai trò của KSNB nhưng lại không áp dụng cho doanh nghiệp mình vì cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và lợi ích mang lại chưa thuyết phục.
KSNB đảm bảo ba mục tiêu chính: Mục tiêu về hoạt động, mục tiêu về BCTC, mục tiêu về sự tuân thủ. Sự phát triển của nền kinh tế, kéo theo sự thay đổi trong hoạt động, cơ chế điều hành của từng doanh nghiệp dẫn đến mục tiểu của KSNB theo COSO 1992 không còn phù hợp. Vì vậy COSO 2013 bổ sung khái niệm KSNB: “KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ” (COSO,2013, tr3), đây là khái niệm về KSNB được sử dụng rộng rãi nhất. So sánh với COSO 1992, các nội dung về cơ bản vẫn giữ nguyên chỉ thay đổi mục tiêu về báo cáo được mở rộng hơn, không chỉ đảm bảo độ tin cậy của BCTC mà còn của các báo cáo phi tài chính và báo cáo nội bộ khác.
KSNB được minh họa qua sơ đồ như sau: Sơ đồ 1.1: Kiểm soát nội bộ theo quan điểm của COSO Tại Việt Nam, theo Kiểm toán quốc tế ISA 315, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 hiện nay ban hành kèm theo thông tư 214/2012/TT-BTC ngày 21/12/2012 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014 đã đưa ra định nghĩa về KSNB như h 9 sau: “KSNB là quy trình do ban quản trị, ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của BCTC, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan” (Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 315, điểm c, điều 4). Hoạt động kiểm soát là các hành động được thiết lập thông qua các chính sách và thủ tục giúp đảm bảo rằng các chỉ thị của Ban giám đốc nhằm giảm thiểu rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu được thực hiện. Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở tất cả các cấp của đơn vị, ở các giai đoạn khác nhau trong quy trình kinh doanh và trên môi trường công nghệ. Chúng có thể mang tính chất phòng ngừa hoặc điều tra và có thể bao gồm một loạt các hoạt động thủ công và tự động, chẳng hạn như ủy quyền và phê duyệt, xác minh, hòa giải và đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Tổ chức hoạt động kiểm soát được thể hiện qua những hình thức sau: Ủy quyền – Các hoạt động kiểm soát được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng tất cả các quyết định đều nằm trong giới hạn do chính sách đặt ra hoặc các ngoại lệ đối với chính sách đã được người có thẩm quyền quyết định. Xem xét và phê duyệt – Các hoạt động kiểm soát được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng các quyết định đã được nhân sự thích hợp xem xét về tính chính xác và đầy đủ. Xác minh – Các hoạt động kiểm soát bao gồm nhiều loại kiểm soát bằng máy tính và thủ công được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng tất cả thông tin kế toán đã được nắm bắt một cách chính xác. Đối chiếu – Hoạt động kiểm soát được thiết kế nhằm đảm bảo hợp lý tính chính xác của hồ sơ tài chính thông qua việc đối chiếu định kỳ giữa tài liệu nguồn với dữ liệu được ghi trong hệ thống thông tin kế toán.
An ninh vật chất đối với tài sản – Các hoạt động kiểm soát được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng tài sản được bảo vệ và bảo vệ khỏi mất mát hoặc hư hỏng do tai nạn, thiên tai, sơ suất hoặc các hành vi cố ý gian lận, trộm cắp. h 10 Tách biệt các nhiệm vụ – Các hoạt động kiểm soát làm giảm nguy cơ sai sót và gian lận bằng cách yêu cầu nhiều người cùng tham gia vào việc hoàn thành một quy trình tài chính cụ thể. Giáo dục, đào tạo và huấn luyện – Các hoạt động kiểm soát làm giảm nguy cơ sai sót và kém hiệu quả trong hoạt động bằng cách đảm bảo rằng nhân viên được giáo dục và đào tạo thích hợp để thực hiện nhiệm vụ của họ một cách hiệu quả. Các chương trình giáo dục và đào tạo cần được định kỳ xem xét và cập nhật để phù hợp với bất kỳ thay đổi nào trong môi trường đại lý hoặc quy trình xử lý tài chính.
Lập kế hoạch và đánh giá hoạt động – Các hoạt động kiểm soát thiết lập các chỉ số hoạt động chính cho cơ quan có thể được sử dụng để xác định các kết quả không mong muốn hoặc các xu hướng bất thường trong dữ liệu có thể chỉ ra các tình huống cần điều tra thêm và / hoặc các hành động khắc phục. Việc đánh giá có thể được thực hiện ở nhiều cấp trong cơ quan, nếu thích hợp: toàn bộ cơ quan; các sáng kiến chính; các chức năng cụ thể; hoặc các hoạt động cụ thể. Đánh giá hiệu suất có thể tập trung vào các vấn đề tuân thủ, tài chính hoặc hoạt động. Ví dụ, đánh giá tài chính nên được thực hiện dựa trên hiệu suất thực tế so với ngân sách, dự báo và hiệu suất trong các kỳ trước.
Nói tóm lại, KSNB là một quá trình, được vận hành bởi con người trong đơn vị để đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp IAS (International Accounting Standards) là Chuẩn mực Kế toán Quốc tế có đưa ra khái niệm về hệ thống KSNB trong doanh nghiệp như sau: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm soát do ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể” (IAS 400). Hệ thống KSNB không đo đếm kết quả dựa trên các con số tăng trưởng, mà chỉ giám sát nhân viên, chính sách, hệ thống, phòng ban của doanh nghiệp đang vận hành ra sao và, nếu vẫn giữ nguyên cách làm đó, thì có khả năng hoàn thành kế hoạch hay không. Ngoài ra, thiết lập được một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ hạn chế h 11 đến mức thấp nhất việc thất thoát tài sản doanh nghiệp, nâng cao kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả như mong muốn thì doanh nghiệp phải xây dựng được kế hoạch mục tiêu. Hệ thống KSNB sẽ hỗ trợ, giám sát quá trình thực hiện kế hoạch đó. Nó có 4 vai trò quan trọng. Cụ thể: Thứ nhất: Phát hiện rủi ro, sai phạm trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Con người là chủ thể trong tất cả các khâu của hoạt động kinh doanh, họ có thể mắc sai phạm trong công việc một cách chủ quan hoặc khách quan. Vì vậy, cần một bộ phận thứ 3 kiểm tra giám sát lại để phát hiện các sai sót nếu có. Thứ hai: Chuyên môn hóa hệ thống. Là một nhà quản lý sáng suốt là phải biết sử dụng con người đúng cách, biết được thế mạnh của từng người để phân công công việc đúng chuyên môn, năng lực.
Người quản lý có trách nhiệm bao quát toán bộ công việc của doanh nghiệp, không thể đi sâu đi sát vào từng con người, từng phòng ban. Vì vậy hệ thống KSNB sinh ra, chuyên môn hóa phần kiểm soát với vai trò hỗ trợ nhà quản lý doanh nghiệp. Thứ ba: Lập BCTC kịp thời, đáng tin cậy và tuân thủ các quy định của pháp luật. Hệ thống KSNB đưa ra các quy chế, quy định, khi các bước chi tiết làm đúng quy định thì sẽ phản ánh thông tin lên BCTC chính xác, số liệu kịp thời và cập nhật.
Thứ tư: Gia tăng độ tin cậy. Mọi cá thể đều tuân thủ nội quy và quy chế đưa ra, hạn chế sai sót, rủi ro, gian lận. Từ đó giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả kinh doanh nhờ vào việc cung cấp thông tin nhanh, kịp thời để đưa ra được các quyết định chính xác.