lời mở đầu Báo cáo về khoa học xã hội thế giới năm 2010, bà Irina Bokova, Tổng thư ký UNESCO đã nhận định rằng KHXH&NV là một công cụ vô giá để thúc đẩy sự đồng thuận quốc tế về những mục tiêu phát triển, nhằm đáp ứng những thách thức có tính chất toàn cầu và nâng cao chất lượng sống của con người. Những thông tin và tri thức mà KHXH&NV tạo ra - con người tương tác với nhau và với môi trường như thế nào - có vai trò to lớn trong việc xây dựng chính sách và những chính sách có hiệu quả chắc chắn sẽ định hình một thế giới tốt hơn cho tất cả chúng ta1. Bản chất của nghiên cứu KHXH&NV là hoạt động tìm kiếm sự thật, nhằm đóng góp cho tri thức sẵn có, tìm ra tri thức mới, hoặc ứng dụng vào một vấn đề cụ thể liên quan tới hoạt động và tương tác với con người. Việc tìm kiếm sự thật là sự tìm kiếm hoặc nghiên cứu một nhóm sự vật, sự kiện hoặc thông tin.
Trong KHXH&NV, việc tìm kiếm sự thật thường có nghĩa là quá trình áp dụng một phương pháp khoa học vào các câu hỏi xã hội. Phương pháp khoa học là một bộ những nguyên tắc và quy trình mà các nhà khoa học xã hội dùng để nghiên cứu các hiện tượng, tạo ra tri thức mới, hoặc chỉnh sửa và bổ sung tri thức đã có2.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=245&Itemid=2, Phạm Thị Ly (2011), Đánh giá khoa học qua định lượng ấn phẩm: những xu hướng mới trên thế giới trong đánh giá khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn.edu/evalphd/wp-content/uploads/2010/05/Chapter_One2.pdf, What is Social Science Research and Why would we want to evaluate it? 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các nhà KHXH&NV mong muốn nghiên cứu hành động và tương tác của con người một cách có hệ thống, chặt chẽ, dựa vào bằng chứng, có tính khái quát hóa, có thể áp dụng rộng rãi và có tính tích lũy. Các loại nghiên cứu KHXH&NV được thực hiện trong một phạm vi ngành rộng lớn, bao gồm nhân chủng học, kinh tế học, sức khỏe, khoa học chính trị, tâm lý học và xã hội học. Theo Nutron và Schuh (1981) “Sợi chỉ xuyên suốt trong hầu hết các loại hình NCKH xã hội đó là đầu ra của chúng là thông tin hơn là các sản phẩm mới hoặc được cải tiến” [21;249].
Các dạng kết quả chính của những công trình nghiên cứu KHXH&NV là: - Tạo ra tri thức: thông qua các ấn phẩm khoa học, thể hiện ở số bài báo đã đăng hoặc được chấp nhận đăng ở tạp chí trong nước, tạp chí nước ngoài; các báo cáo; chương sách, sách, phần mềm, bản quyền. - Xây dựng năng lực nghiên cứu: thông qua việc đào tạo sau đại học và phát triển nghề nghiệp, thể hiện ở số cán bộ tham gia thực hiện đề tài; số cán bộ được đào tạo trong khuôn khổ đề tài. - Phát triển sản phẩm hoặc chính sách: cung cấp đầu vào để xây dựng các văn bản chính sách, thể hiện ở số lượng văn bản về luật, chính sách, quy định, nguyên tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn,… mới được xây dựng từ kết quả của đề tài; số lượng trích dẫn kết quả nghiên cứu vào các văn bản luật, chính sách,… và phục vụ cho các cuộc thảo luận ở các ủy ban, hội đồng cấp địa phương/hoặc cấp quốc gia. - Lợi ích cho các tổ chức: tác động đối với các nhóm khách hàng cụ thể, thể hiện ở việc cung cấp hành hóa công (các mô hình, phương pháp mới; cơ sở dữ liệu; các chương trình đào tạo mới được xây dựng từ đề tài,…) các dịch vụ, tư vấn cho các tổ chức, cá nhân.
- Các lợi ích xã hội rộng lớn: thể hiện ở các tác động từ kết quả của NCKH xã hội đem lại, nâng cao tri thức và hiểu biết xã hội, tạo việc làm, cải 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thiện điều kiện làm viêc, nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống, khuyến khích cách tiếp cận mới đối với những vấn đề xã hội,… 1. Hệ thống chỉ tiêu thống kê khoa học và công nghệ Theo Luật thống kê, “chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể” [24; điều 3]. Chỉ tiêu thống kê được thực hiện bằng những trị số cụ thể khác nhau tùy theo điều kiện thời gian và không gian, đơn vị đo lường và phương pháp tính. Theo nội dung phản ánh, chỉ tiêu thống kê có thể chia thành: - Chỉ tiêu khối lượng: phản ánh qui mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu (trong một số tài liệu có thể gọi đó là chỉ tiêu định lượng).
- Chỉ tiêu chất lượng: phản ánh đặc điểm về mặt chất của hiện tượng nghiên cứu (trong một số tài liệu có thể gọi đó là chỉ tiêu định tính). Ngoài ra, người ta có thể chia chỉ tiêu thống kê thành: chỉ tiêu thống kê đầu vào; chỉ tiêu thống kê đầu ra; chỉ tiêu thống kê kết quả; chỉ tiêu thống kê tác động. Trong hoạt động KH&CN, để xác định được những loại chỉ tiêu thống kê KH&CN, cần hiểu được cấu trúc cơ bản của hoạt động KH&CN. Nói chung, có thể thấy, trước hết hoạt động KH&CN đòi hỏi phải có kinh phí (tiền), như vậy chắc chắn có cơ quan cấp kinh phí (cấp nguồn lực hoạt động).
Tiếp đó chắc chắn có tổ chức, đơn vị thực hiện hoạt động KH&CN. Từ đây có thể thấy cần phải có thông tin để biết ai cấp kinh phí, cấp bao nhiêu, ai thực hiện, chi tiêu thế nào. Người ta cho rằng có hai tập hợp số liệu được tập trung nghiên cứu để đo lường hoạt động KH&CN. Hai tập hợp các chỉ tiêu đó là: Những chỉ tiêu thống kê đầu vào; Những chỉ tiêu thống kê đầu ra.
Những chỉ tiêu thống kê kết quả và tác động còn chưa nhiều. Các chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu được sử dụng trong việc: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Ra Quyết định/chính sách: Chính phủ và các doanh nghiệp phải theo dõi các nguồn lực và hoạt động KH&CN của họ, đánh giá xem các hoạt động này đáp ứng được các mục tiêu của họ đến mức nào, và dự đoán xu thế và nhu cầu trong tương lai cho phát triển nguồn nhân lực và tài chính (tức là lập danh sách ưu tiên). - Nghiên cứu và phân tích: Những chỉ tiêu thống kê KH&CN có thể cho phép các nhà nghiên cứu kiểm tra các giả thiết kinh tế, so sánh, mô tả những khác biệt quốc gia trong các hệ thống KH&CN. - Thông tin: Các chỉ tiêu KH&CN có thể sử dụng cho các cuộc thảo luận công khai về các vấn đề phân bổ nguồn lực KH&CN.
Chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào bao gồm các chỉ tiêu về các nguồn lực của tổ chức R&D, năng lực thực hiện các hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động R&D nói riêng. Các chỉ tiêu này bao gồm những nét cơ bản sau3: - Sức mạnh của tiềm lực xét trên các thành tố cơ bản là: nhân lực (xét trên các mặt cơ cấu như lứa tuổi, nam nữ, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác nghiên cứu KH&CN, phân theo các lĩnh vực hoạt động KH&CN, cơ cấu chức vụ, v.v); tài chính; thông tin KH&CN; trang thiết bị nghiên cứu; năng lực tổ chức công tác nghiên cứu KH&CN; - Mức độ tổng hợp của các chương trình, đề tài nghiên cứu mà cơ quan thực hiện trong những năm gần đây: tính hệ thống của các đề tài nghiên cứu, dự trữ các ý đồ nghiên cứu, khả năng tập trung nguồn lực để phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu; - Mức độ trang thiết bị các cơ sở thí nghiệm thử nghiệm, các pilot, quy mô của cơ sở thí nghiệm, khả năng giải quyết các nhiệm vụ đặt ra đối với các dự án quốc gia; 3 Theo Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr111-119. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực bồi dưỡng cán bộ, đào tạo cán bộ có trình độ cao: thành phần và tình trạng của các cơ sở đào tạo (thực tập, thí nghiệm, thử nghiệm, trình diễn); cán bộ và khả năng tổ chức trong quá trình đào tạo (hướng dẫn viên khoa học, giảng viên, giáo sư, cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh, v.v); các bộ phận trợ giúp khác (phòng hội thảo, hội trường, các phương tiện trang bị cho trình diễn, các phương tiện thông tin liên lạc, v. Các chỉ tiêu thống kê KH&CN đầu vào cụ thể gồm có: - Thông tin: Thông tin, với tư cách là đầu vào của NCKH bao gồm một số loại như: thông tin làm “nguyên liệu” cho nghiên cứu do người nghiên cứu thu thập được qua nghiên cứu tài liệu, khảo sát, điều tra hoặc thực nghiệm; thông tin về phương pháp nghiên cứu để người nghiên cứu có những thông tin đầy đủ về các phương pháp để có thể lựa chọn một số phương pháp thích hợp và có hiệu quả; thông tin đầy đủ về các phương pháp xử lý dữ liệu để người nghiên cứu có thể lựa chọn một số phương pháp thích hợp và có hiệu quả; thông tin về các nguồn lực.
- Vật tư: Vật tư được sử dụng như một nguồn lực quan trọng trong NCKH. Khái niệm “vật tư khoa học” thường được hiểu bao gồm cả các vật liệu và các thiết bị khoa học. Đối với vật tư thông dụng thì không có đặc điểm gì quá riêng biệt nhưng đối với các thiết bị và vật tư chuyên dụng và đặc chủng thì có những đặc điểm cần phải quan tâm như: không phải lúc nào cũng có sẵn trên thị trường, vì vậy giá mua trên thị trường rất đắt; tần suất sử dụng hầu như rất thấp; hao mòn vô hình rất cao. - Nhân lực: Cơ cấu nhân lực được phân tích và xem xét về mặt số lượng, tính đồng bộ và chất lượng theo yêu cầu của hoạt động R&D.
Có nhiều loại cơ cấu cần được phân tích và xem xét, trên đại thể các loại cơ cấu như: Cơ cấu biên chế: gồm có biên chế chính nhiệm là biên chế nằm trong sổ lương của đơn vị; biên chế kiêm nhiệm là biên chế tham gia một phần thời gian vào công việc của đơn vị, có một quyết định kiêm chức, nhận một khoản 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lương kiêm nhiệm; biên chế chính nhiệm quy đổi tương đương, là biên chế khoán việc, họ nhận hoàn thành những đầu tên công việc và nhận một khoản thù lao theo số lượng và chất lượng hoàn thành các công việc đó. Cơ cấu chuyên môn: phải có cơ cấu chuyên môn phù hợp với yêu cầu nghiên cứu.