Chương 1: Tổng quan về kế toán và hệ thống báo cáo kế toán. Chương 2: Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán của các viễn thông tỉnh, thành phố trực thuộc Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán của các viễn thông tỉnh, thành phố trực thuộc Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN 1.
VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN VÀ BÁO CÁO KẾ TOÁN 1. Định nghĩa kế toán Do đời sống xã hội con người hình thành và phát triển qua rất nhiều giai đoạn nên cách nhận thức của con người về bản chất và nội dung của kế toán trong mỗi giai đoạn cũng có nhiều sự khác nhau. Vì thế, định nghĩa về kế toán trong từng thời kỳ cũng không giống nhau. Trong thời kỳ sơ khai, người ta quan niệm kế toán chỉ là một phương pháp, một hoạt động giản đơn, một cách thức để phân chia kết quả và theo dõi diễn biến của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Trong cơ chế tập trung bao cấp, bản chất của kế toán theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam đã định nghĩa : “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ảnh kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước, cũng như từng tổ chức, xí nghiệp”. Hay “kế toán là công việc tính toán, ghi chép bằng con số biểu hiện giá trị tiền tệ tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tất cả các đơn vị cơ quan, xí nghiệp”. Theo Luật kế toán của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2003 thì để thống nhất quản lý kế toán, bảo đảm kế toán là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đã đưa ra định nghĩa về kế toán như sau: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Mục tiêu và đối tƣợng sử dụng thông tin trên báo cáo kế toán 1.
Mục tiêu của kế toán Mục tiêu cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin về tài chính của một tổ chức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 kinh tế. Thông tin mà kế toán phản ảnh ở đây chủ yếu là thông tin của tổ chức kinh doanh có mục tiêu chính là lợi nhuận. Những thông tin về tài chính mà hệ thống kế toán cung cấp cần thiết cho những người ra quyết định quản lý trong quá trình lập kế hoạch và giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra thông tin tài chính còn cần cho cả những người ở bên ngoài doanh nghiệp như các chủ sở hữu, người cho vay, nhà đầu tư, các cơ quan Nhà nước có liên quan với doanh nghiệp….
Những người này cũng cần được cung cấp thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp để xem xét đề ra quyết định thích hợp. Theo Meis và Meigs, 1995 thì cho rằng kế toán có 2 mục tiêu chủ yếu: Một là, phân loại, tổng hợp và truyền đạt những thông tin về tài chính của một tổ chức. Hai là, cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của một tổ chức và diễn đạt được khả năng, trách nhiệm và cương vị quản lý.1: QUY TRÌNH KẾ TOÁN Xử lý kế toán The accounting process Hoạt động kinh tế Thông tin kế toán Economic activities Accounting Information Những người ra quyết định- Decision makers Những thông tin kế toán tài chính được thiết kế quan trọng không chỉ đối với các nhà đầu tư mà còn rất cần thiết đối với xã hội. Từ những thông tin này mà các nhà đầu tư sẽ quyết định đơn vị kinh tế nào sẽ được chọn để đầu tư vốn, tài trợ vốn trong chiến lược đầu tư phát triển.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra làm thế nào để liên kết, tổng hợp các thông tin một cách có hiệu quả phục vụ cho việc ra quyết định kịp thời và đúng đắn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán Đối tƣợng sử dụng báo cáo tài chính Tại đoạn 9, trong báo cáo về “Khuôn khổ để soạn thảo và trình bày các báo cáo tài chính”, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) xác định: “Những người sử dụng báo cáo tài chính gồm các nhà đầu tư hiện tại, những người làm thuê, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ thương mại khác, các khách hàng, nhà nước và các cơ quan của nó và cộng đồng. Họ dùng báo cáo tài chính để đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của họ” + Các nhà đầu tư: những người cung cấp vốn và các cố vấn của họ quan tâm đến những rủi ro và những lợi tức mang lại từ sự đầu tư của họ.
+ Những người làm thuê: quan tâm đến những thông tin về sự ổn định và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đảm bảo cuộc sống của công nhân. + Các nhà cho vay: quan tâm đến những thông tin cho phép họ xác định có cho vay (hay không), tiền lãi sẽ được trả khi đến hạn hay không. + Các nhà cung cấp và các chủ nợ khác: quan tâm đến những thông tin cho phép họ xác định xem số tiền họ đang làm chủ sẽ được trả khi đến hạn hay không. + Các chủ nợ có thể quan tâm đến một doanh nghiệp qua một kỳ ngắn hơn các nhà cho vay trừ khi họ phụ thuộc vào sự liên tục của doanh nghiệp như một khách hàng thứ yếu.
+ Các khách hàng: quan tâm đến những thông tin về sự liên tục của một doanh nghiệp, đặc biệt khi họ có sự liên quan lâu dài hoặc bị phụ thuộc vào doanh nghiệp. + Nhà nước và các cơ quan nhà nước: quan tâm đến việc sử dụng tài nguyên, họ đòi hỏi thông tin để điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp, xác định chính sách thuế cũng như làm căn cứ để thống kê thu nhập của quốc gia và các thống kê tương tự. + Cộng đồng: các doanh nghiệp ảnh hưởng đến các thành viên của cộng đồng theo nhiều cách khác nhau như sự đóng góp quan trọng của doanh nghiệp vào sự phát triển kinh tế địa phương, giải quyết thất nghiệp, môi trường… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 : ĐỐI TƢỢNG SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN ĐỐI TƢỢNG SỬ STT DỤNG THÔNG MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG THÔNG TIN TIN I Đối tƣợng bên trong doanh nghiệp Nhà quản trị doanh 1 Đánh giá, lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh của đơn vị nghiệp Sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, so sánh về tiền 2 Người lao động lương, tiền công II Đối tƣợng bên ngoài doanh nghiệp 1 Cổ đông Mua, bán, sang nhượng hoặc nắm giữ cổ phiếu 2 Nhà đầu tư Tăng, giảm hoặc giữ nguyên mức đầu tư 3 Nhà cung cấp Khả năng thanh toán, khả năng tạo tiền của doanh nghiệp 4 Khách hàng Mua hay không mua sản phẩm của DN 5 Chủ nợ Khả năng thanh toán, khả năng tồn tại và sức sinh lời 6 Đối thủ cạnh tranh Định giá sản phẩm, marketing, thị phần Cơ quan quản lý 7 Tính tuân thủ pháp luật về tài chính, kinh tế Nhà nước Đối tƣợng sử dụng báo cáo kế toán quản trị Khác với báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị được soạn thảo và trình bày nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp - các nhà quản lý. Vai trò chủ yếu của nhà quản lý là ra quyết định, để thực hiện được vai trò này các nhà quản lý cần thông tin, nhu cầu thông tin có được từ nhiều nguồn, một trong những nguồn cung cấp thông tin cho các nhà quản lý là kế toán quản trị.
Đối với tất cả các doanh nghiệp, các nhà quản lý cần 3 thông tin sau: Thông tin phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch để đạt được mục tiêu hoạt động doanh nghiệp. Thông tin phục vụ cho việc kiểm soát các hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp để chỉ đạo hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra. Thông tin phục vụ cho việc chứng minh các quyết định đặc biệt trong quá trình hoạt động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm về báo cáo kế toán Ở Việt Nam, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, có rất nhiều định nghĩa báo cáo kế toán khác nhau: “Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế về tình hình và kết quả kinh doanh, sử dụng vốn của đơn vị kế toán trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu báo cáo quy định”.1 “Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính phản ánh tình hình tài sản tại một thời điểm và kết quả hoạt động kinh doanh của Xí nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một biểu mẫu báo cáo đã quy định”.2 Các định nghĩa trên đều thống nhất rằng báo cáo kế toán là một trong các phương pháp của kế toán được sử dụng để thực hiện các chức năng phản ánh và kiểm tra đối với đối tượng kế toán trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, quan niệm về báo cáo kế toán có sự thay đổi: “Báo cáo kế toán định kỳ là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, công nợ và nguồn vốn, cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nhằm phục vụ các yêu cầu thông tin cho việc đề ra các quyết định của chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay hiện tại, tương lai và các cơ quan, tổ chức chức năng”.3 Hiện nay, kế toán được phân chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị theo định hướng xử lý và cung cấp thông tin gắn liền với yêu cầu quản lý nội bộ và đáp ứng cho nhu cầu của các đối tượng khác bên ngoài.