CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC.1 Khái niệm về đào tạo phát triển nguồn nhân lực.1 Khái niệm nguồn nhân lực Ở nước ta, thuật ngữ nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ đầu những năm 90. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau được đưa ra về vấn đề này và cho đến nay, hầu như vẫn chưa được thống nhất. Có thể nêu lên một số quan điểm như sau: (Lê Thị Thúy, 2012) Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” Theo Trần Kim Dung (2011) “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định của doanh nghiệp”.
Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” Theo GS.TS Phạm Minh Hạc (2001): “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”. Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” Ngoài ra, theo quy định của Luật Lao Động Việt Nam: độ tuổi lao động được tính từ đủ 15 tuổi đến thời điểm nghỉ hưu.
Như vậy, độ tuổi lao động đối với nam là từ đủ 15 đến 60 tuổi và đối với nữ là từ đủ 15 đến 55 tuổi, đây là nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, những người đang trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động do sức khỏe, bệnh tật, sinh lý… không nằm trong khái niệm nguồn nhân lực đang nghiên cứu, do đó, không phải là nguồn nhân lực. Như vậy, mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, tuy nhiên chúng đều thống nhất ở nội dung đó là: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nó không thể xem xét một cách độc lập mà cần được xem xét trên cả ba yếu tố: số lượng (thể hiện quy mô nguồn nhân lực), chất lượng (thể hiện bản chất của nguồn nhân lực: sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, …) và cả mối quan hệ với nhau để tạo nên sức mạnh và sự phát triển của nguồn nhân lực.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm: Nguồn nhân lực là nguồn lực lao động, là tổng thể số lượng và chất lượng con người với đầy đủ các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào quá trình lao động sáng tạo để phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.2 Khái niệm đào tạo phát triển nguồn nhân lực Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm về đào tạo phát triển nguồn nhân lực: (Nguyễn Đạo Long, 2012) Theo John W.Boudreau “Đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của công nhân viên và những yêu cầu của công việc” còn “Phát triển là quá trình lâu dài nhằm nâng cao năng lực và động cơ của công nhân viên để biến họ thành những thành viên tương lai quý báu của tổ chức đó. Phát triển bao gồm không chỉ có đào tạo, mà còn cả sự nghiệp và những kinh nghiệm khác nữa” Trong khi đó theo Cherrington, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể, còn phát triển liên quan đến việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn. Còn theo Carrel và cộng sự cho rằng: đào tạo được sử dụng trong trường hợp các nhân viên học tập, lĩnh hội được các kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật. Còn khái niệm phát triển liên quan tới các phương pháp và hoạt động nhằm nâng cao khả năng thực hành cho các quản trị gia bằng cách truyền đạt các kiến thức, thay đổi quan điểm, hoặc nâng cao kỹ năng thực hành cho các quản trị gia hoặc các quản trị gia tương lai.
Quan điểm của Cenzo và Robbins: đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Còn phát triển nhân viên nhằm chú trọng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 lên các công việc tương lai trong tổ chức, doanh nghiệp. Khi một người được thăng tiến lên những chức vụ mới, họ cần có những kiến thức, kỹ năng mới theo yêu cầu mới của công việc. Công tác phát triển nhân viên sẽ giúp cho các cá nhân chuẩn bị sẵn các kiến thức, kỹ năng cần thiết đó.
Và ở Việt Nam “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn” còn “Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức” Như vậy, có thể hiểu rằng đào tạo phát triển là hai mặt của quá trình học tập và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó đào tạo nhằm giúp cho người lao động có thể nắm vững hơn về công việc của mình, nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Còn, phát triển nhằm giúp người lao động phát triển vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.1: So sánh khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo Phát triển 1. Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai 2.
Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức 3. Thời gian Ngắn hạn Dài hạn Khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ Chuẩn bị cho tương 4. Mục đích năng hiện tại lai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội nói chung cũng như đối với các doanh nghiệp, tổ chức và người lao động nói riêng.1 Đối với doanh nghiệp.
- Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp nâng cao trình độ của người lao động, là cơ sở cho việc nâng cao năng suất lao động cá biệt, nâng cao chất lượng công việc, chất lượng quá trình và chất lượng sản phẩm. - Trình độ giữa những người lao động trong một dây chuyền sản xuất, trong một bộ phận và trong toàn doanh nghiệp tương thích, đồng đều là cơ sở cho sự gia tăng năng suất lao động chung, năng suất lao động nhóm. - Do trình độ được nâng cao, người lao động hiểu rõ công việc của mình hơn, thành thạo kỹ năng hơn nên việc kiểm tra, giám sát cũng giảm đi, giúp doanh nghiệp giảm chi phí không tạo giá trị gia tăng. - Ngoài ra, tai nạn lao động cũng được giảm thiểu khi người lao động đã thành thạo kỹ năng nghề nghiệp và ý thức kỷ luật lao động được nâng cao.
- Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực còn tạo điều kiện áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất kinh doanh và quản lý. Giúp nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nhiệp. Giúp tăng khả năng sáng tạo trong sản xuất, trong công việc quản lý tạo nên lợi thế tuyệt đối trong cạnh tranh. Và kết quả cuối cùng đạt được đó là: công việc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tăng trưởng, hiệu quả và bền vững.2 Đối với người lao động.