Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài ”Hoàn thiện trả lương tại Công ty Cổ phần ID Việt Nam” Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về trả lương trong doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng trả lương của công ty Cổ phần ID Việt Nam Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện trả lương tại công ty Cổ phần ID Việt Nam GVHD: Th.S Phạm Thị Thanh Hà 6 SVTH: Nguyễn Thị Phương Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm tiền lương Theo quan điểm của Các Mác: Tiền lương là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường.
Ở Việt Nam, theo Điều 1, Công ước số 95, Công ước về Bảo vệ tiền lương, 1949, tiền lương được định nghĩa như sau: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu thập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm”. Hiện nay theo Khoản 1, Điều 90 - Bộ Luật Lao Động Việt Nam quy định: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do chính phủ quy định”.
Tóm lại, có rất nhiều các quan điểm về tiền lương với các cách diễn đạt khác nhau nhưng trong bài khóa luận tác giả sử dụng khái niệm: “Tiền lương là giá cả của lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đến quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ pháp luật của nhà nước” [Tập bài giảng trả công lao động Bộ môn Kinh Tế Doanh Nghiệp, Trường Đại học Thương Mại].S Phạm Thị Thanh Hà 7 SVTH: Nguyễn Thị Phương Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực 2. Khái niệm trả lương Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội. Công tác trả lương là toàn bộ những hoạt động liên quan đến việc hình thành, quản lý, và phân phối tiền lương. Các hoạt động đó được thực hiện trên cơ sở các quyết định ban hành của nhà nước, các ngành có liên quan.
Vì vậy các doanh nghiệp tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình để thực hiện công tác trả lương hiệu quả nhất. Vì vậy, “Trả lương là quá trình tổ chức, doanh nghiệp (người sử dụng lao động) thực hiện việc chi trả tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận giữa hai bên trên cơ sở quy đinh của pháp luật”. Khái niệm quỹ lương Tổng quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (tiền ăn giữa ca, tiền hỗ trợ phương tiện đi lại, tiền quần áo đồng phục .) mà doanh nghiệp trả cho các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Thành phần quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm các khoản chủ yếu sau: -Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế (Tiền lương theo thời gian, tiền lương theo sản phẩm và tiền lương khoán).
- Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định. - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác làm nghĩa vụ theo chế độ quy định,thời gian nghỉ phép, thời gian đi học. - Tiền ăn trưa, ăn ca. - Các loại phụ cấp thường xuyên (phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thâm niên.) - Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
Để phục vụ cho công tác hạch toán tiền lương trong doanh nghiệp có thể chia thành hai loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ.S Phạm Thị Thanh Hà 8 SVTH: Nguyễn Thị Phương Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực - Tiền lương chính là tiền lương doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiện nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và phụ cấp kèm theo như phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên. - Tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính và thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ vì ngừng sản xuất. được hưởng theo chế độ. Quỹ lương báo cáo là tổng số tiền thực tế đã chi trong đó nhưng khoản không được lập trong kế hoạch nhưng phải chi do những thiếu sót trong tổ chức sản xuất, kinh doanh; tổ chức lao động hoặc do điều kiện sản xuất không bình thường nhưng khi lập kế hoạch chưa tính đến như tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc hay làm lại sản phẩm hỏng….
Quỹ lương theo kế hoạch là tổng số tiền lương dự tính theo cấp bậc và các khoản phụ cấp thuộc quỹ tiền lương dùng để trả cho công nhân, viên chức theo số lượng và chất lượng lao động khi hoành thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong điều kiện bình thường. Vì vậy, “Quỹ lương của một doanh nghiệp là tổng số tiền mà doanh nghiệp sử dụng để trả lương cho người lao động làm việc trong doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định” theo Bài giảng Trả công lao động, năm 2014 của Bộ môn Kinh tế doanh nghiệp – Trường đại học thương mại 2. Khái niệm đơn giá tiền lương Theo Bài giảng Trả công lao động, năm 2014 của Bộ môn Kinh tế doanh nghiệp – Trường đại học thương mại viết: “Đơn giá tiền lương được xác định dựa trên cơ sở định mức lao động trung bình. Đơn giá tiền lương có thể lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu của doanh nghiệp và có thể được thay đổi theo năm kinh doanh phụ thuộc vào tổng quỹ lương của năm; kết quả hoạt động kinh doanh và được điều chỉnh cho phù hợp với từng doanh nghiệp”.
Để tính đơn giá tiền lương một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào hai mặt số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động thể hiện qua mức hao phí thời gian lao động dùng để sản xuất ra sản phẩm trong một khoảng thời gian theo lịch nào đó, ví dụ số giờ lao động trong ngày, số ngày lao động trong tuần hay trong tháng. Đơn vị số lượng lao động chính là số thời gian lao động.S Phạm Thị Thanh Hà 9 SVTH: Nguyễn Thị Phương Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực Chất lượng lao động là trình độ lành nghề của người lao động được sử dụng vào quá trình lao động. Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ giáo dục đào tạo, kinh nghiệm kỹ năng.
Chất lượng lao động càng cao, thì năng suất lao động và hiệu quả làm việc cũng càng cao. Rõ ràng muốn xác định đúng đắn đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm hay một loại công việc cụ thể, chúng ta cần phải xác định rõ số lượng và chất lượng lao động nào đó đã hao phí để thực hiện công việc đó. Đồng thời cần phải xác định điều kiện lao động của công việc cụ thể đó, bởi vì điều kiện lao động khác nhau có ảnh hưởng đến mức hao phí sức lao động trong quá trình làm việc. Những công việc phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, hao tốn nhiều sức lực phải được tính đơn giá tiền lương cao hơn so với những công việc làm việc trong điều kiện bình thường.
Sự phân biệt này làm tăng tính linh hoạt của đơn giá tiền lương, gắn đơn giá tiền lương với năng suất lao động và chất lượng công việc. Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, có phân biệt theo điều kiện lao động. Người ta sử dụng các loại phụ cấp về điều kiện lao động để tính vào đơn giá tiền lương cho những công việc thực hiện ở những điều kiện lao động khác nhau. Vậy, “Đơn giá tiền lương là mức tiền lương dùng để trả cho người lao động khi họ hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay công việc”.
Nội dung của trả lương trong doanh nghiệp 2. Chính sách tiền lương trong doanh nghiệp 2. Nguyên tắc, căn cứ, yêu cầu xây dựng chính sách tiền lương trong doanh nghiệp a. Căn cứ xây dựng chính sách tiền lương - Căn cứ xây dựng chính sách tiền lương xây dựng chính sách tiền lương trong doanh nghiệp cụ thể, chúng ta cần phải xác định rõ số lượng và chất lượng lao động nào.
- Căn cứ xây dựng chính sách tiền lương trong quy định về tiền lương tới hoạt động, thành phần kinh tế. Đảm bảo thỏa mãn yêu cầu cơ bản, thiết yếu của người lao động để tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng sức lao động. Tạo động lực cho người lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Đảm bảo công bằng bên trong doanh nghiệp và với thị trường lao động.
Trả lương ngang nhau cho công việc có giá trị như nhau trong doanh nghiệp.S Phạm Thị Thanh Hà 10 SVTH: Nguyễn Thị Phương Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực b. Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương Trong mỗi thể chế kinh tế nhất định, nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương chính là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập hợp lý. Ở nước ta khi xây dựng công tác trả lương phải tuân theo những nguyên tắc sau: Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng trong trả lương.