CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TRẢ CÔNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. TỔNG QUAN VỀ TRẢ CÔNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm Lao động là quá trình con người sử dụng sức lao động kết hợp với công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Hay nói cách khác, lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của xã hội.
Lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, tính chất quyết định của lao động con người đối với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội càng biểu hiện rõ rệt. Lao động còn là phạm trù kinh tế gắn liền với lao động tiền tệ và sản xuất hàng hóa, là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra, nó là bộ phận của nguồn thu nhập, kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp [4]. Trả công lao động: Ở các nước phát triển người ta dùng khái niệm trả công lao động (hay thù lao lao động) để chỉ các giá trị vật chất và phi vật chất mà người sử dụng lao động trả cho người lao động trong quá trình lao động [13] Tiền công là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực quan hệ sản xuất.
Tiền công giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý, trong đời sống và cả về mặt chính trị xã hội. Có nhiều quan niệm về tiền công: Tiền công là biểu hiện bằng tiền của chi phí nhân công mà đơn vị sử dụng lao động trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc mà họ đã cống hiến. Tiền công là thu nhập chủ yếu của người lao động. Tiền công chỉ mọi khoản thù lao mà công nhân nhận được do làm việc, bất luận là Luan van 9 dùng tiền công, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày, tháng, theo sản phẩm.
Tiền công cũng có thể được hiểu là khoản tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc như là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ. Tiền công không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này. Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là tiền công. Qua các khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm tiền công như sau: Tiền công được hiểu là giá trị mà người sử dụng lao động trả cho người lao động, có thể biểu hiện bằng tiền, hàng hoá.
được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động bằng luật pháp, quy pháp quốc gia, theo một hợp đồng lao động; bằng văn bản hay bằng miệng cho một công việc, một dịch vụ đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện với những yêu cầu nhất định về số lượng và chất lượng công việc, dịch vụ đó. Nguyên tắc của việc trả công cho người lao động [4],[13],[14],[24] Việc trả công cho người lao động phải dựa trên các nguyên tắc sau: - Phải tuân thủ theo quy định pháp luật nhà nước. - Trả công phải căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm tốc độ tăng năng suất lao động bình quân phải nhanh hơn tốc độ tăng tiền công bình quân trong toàn đơn vị và trong kỳ kế hoạch. Tiền công bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố do nâng cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian tổn thất cho lao động, còn năng suất lao động tăng không phải chỉ do những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như: áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp Luan van 10 lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt lao động và các quá trình sản xuất.
Như vậy tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ tăng tiền c ô n g bình quân. - Trả công bằng nhau cho lao động như nhau. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong trả công lao động là phải bảo đảm sự công bằng. Sự công bằng không chỉ với bên trong mà cả với bên ngoài.
Nếu việc đánh giá công việc nhằm chủ yếu bảo đảm sự công bằng ở bên trong thì việc quyết định mức tiền công còn tính đến sự công bằng với bên ngoài. Sự so sánh công bằng được tiến hành trong giai đoạn này giữa những công việc tương tự ở các tổ chức khác nhau. Mục đích là tạo nên một tỷ lệ chi trả có thể cạnh tranh với bên ngoài. Để tạo thuận lợi cho khả năng cạnh tranh, phần lớn các tổ chức xác định mức thù lao cho các công việc của họ tương ứng (nhưng không nhất thiết phải giống ) với mức tiền công mà các đối thủ cạnh tranh trả cho nhân viên của họ.
Các công việc có cùng giá trị (hay đầu vào) đối với các tổ chức khác nhau cần phải được trả công (đầu ra ) tương tự ( nhưng không nhất thiết phải bằng ). - Đảm bảo thu nhập tiền công hợp lý giữa các ngành nghề khác nhau. Ý nghĩa của việc trả công cho người lao động [4],[13],[24] Trả công cho người lao động là động lực kích thích con người làm việc hăng hái nhưng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, bất mãn hoặc từ bỏ công ty mà ra đi, tất cả những vấn đề đó đều tùy thuộc vào trình độ và năng lực của nhà quản trị. - Tiền công là bộ phận cực kỳ quan trọng để tái sản xuất sức lao động, đối với người sử dụng sức lao động, tiền công là một trong các khoản mục của chi phí sản xuất, là khoản đầu tư cho phát triển.
Tiền công chính là sự bù đắp những hao phí lao động mà người lao động đã bỏ ra, đó là nguồn thu nhập của họ, ở khía cạnh này họ mong muốn được trả công cao. Tiền công Luan van 11 thỏa đáng sẽ kích thích nhiệt tình lao động của nhân viên nhờ đó mà tạo điều kiện tăng năng suất, chất lượng dẫn đến tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và qua đó gián tiếp làm tăng phúc lợi cho người lao động. Tiền công thấp sẽ làm kiệt quệ sức lao động của nhân viên, làm hạn chế nhiệt tình lao động của họ, điều này dẫn đến tình trạng công nhân bỏ việc làm, đình công hoặc làm việc uể oải năng suất thấp kết quả là lợi nhuận doanh nghiệp giảm, thua lỗ. Người lao động cũng không thể đòi hỏi trả công quá cao vì điều đó sẽ làm cho doanh nghiệp phải xem xét lại kế hoạch sử dụng lao động khi chi phí sử dụng lao động cao lên như cắt giảm quy mô sản xuất hoặc ngưng sản xuất, đầu tư chiều sâu để tăng năng suất lao động.
tất cả điều này đều dẫn đến kết quả là giảm quy mô sử dụng lao động cũng có nghĩa là làm cho cơ hội có việc làm ổn định của người lao động bị mất đi. Xét ở khía cạnh khác, tiền công còn được xem là sự tôn trọng và thừa nhận, giá trị của lao động được đo lường thông qua tiền công, đồng thời nó cũng thể hiện sự công bằng thông qua mối quan hệ tiền công giữa các cá nhân. - Việc trả công lao động hợp lý có tác dụng thu hút nhân viên, duy trì những nhân viên giỏi, hạn chế hiện tượng chảy máu chất xám; kích thích động viên nhân viên và đáp ứng các yêu cầu của luật pháp. Chẳng hạn như: với một mức lương cao, doanh nghiệp sẽ có khả năng lôi kéo thêm lao động giỏi để mở rộng sản xuất, tăng quy mô hoạt động làm tăng quy mô lợi nhuận.
Việc mức tiền công cao sẽ có tác dụng tích cực trong việc tạo ra động lực làm việc mạnh mẽ cho người lao động nhờ đó mà nâng cao năng suất, cải thiện tỷ suất lợi nhuận, quan hệ lao động trong doanh nghiệp được cải thiện. Tuy nhiên việc trả công lao động cao có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc gia tăng quy mô chi phí, đặc biệt là trường hợp tốc độ tăng tiền công nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động. Luan van 12 - Chính sách trả công thể hiện quan điểm của nhà nước đối với người lao động ở các doanh nghiệp, phản ánh cung cầu về sức lao động trên thị trường, điều kiện kinh tế và tỷ lệ lao động thất nghiệp trên thị trường, chế độ ưu đãi khuyến khích khác nhau theo vùng và địa lý. Tiền công là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động.
Vì vậy để sử dụng đòn bẩy tiền công nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật, có tay nghề cao với ý thức kỷ luật cao thì đòi hỏi công tác trả công lao động trong doanh nghiệp phải được đặc biệt coi trọng. Tổ chức trả công lao động trong doanh nghiệp được thực hiện công bằng và hợp lý sẽ tạo ra bầu không khí hài hòa, cởi mở giữa các nhân viên trong công ty tạo tinh thần đoàn kết. Ngược lại, khi công tác tổ chức trả công lao động trong doanh nghiệp thiếu tính công bằng, minh bạch và không hợp lý thì sẽ dẫn đến những mâu thuẩn thậm chí khá gay gắt giữa các nhân viên trong công ty, giữa người lao động và cấp quản trị, đôi khi dẫn đến những lãng phí, thất thoát lớn trong sản xuất. Vì vậy các nhà quản trị cần phải thường xuyên theo dõi đầy đủ công tác trả công lao động, lắng nghe và phát hiện kịp thời những ý kiến bất đồng hoặc những mâu thuẩn có khả năng xuất hiện trong phân phối tiền công, tiền thưởng cho người lao động qua đó có sự điều chỉnh kịp thời.
NỘI DUNG CỦA VIỆC TRẢ CÔNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.