CHƯƠNG 1 LY LUAN VE THU HUT VA DUY TRI NGUON NHAN LU TRONG DOANH NGHIEP 1. MOT SO KHAI NIEM CO BAN Li Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.12] Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách.7-§] Nhân lực, theo nghĩa gốc, là sức người. Sức người bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tỉnh thần.
Không nên hiểu sức người chỉ ở mặc tài mà bao gồm cả mặt đức, đó là cái gốc của con người.544] Theo cách tiếp cận này, thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của mỗi người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc nghỉ ngơi, chế độ y tế. Ngoài ra, thể lực con người còn phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính, Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng. khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng người. Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp.1 Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm về nguồn nhân lực thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, đó là: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực là tổng thế nguồn lực. từng cá nhân con người. Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.12] Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người thể hiện một sự nhìn nhận lại về vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội dung của nó không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng.
lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rong hon.12] Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế, xã hội của. Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi Quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con người. Theo Begg, Fircher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiễu là toàn bộ chuyên môn mà con người tích lũy. được, nó được đánh giá cao về tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghỉ hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống, [9, tr.15] Theo Bộ Luật Lao động Việt Nam, NNL trong xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động, Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ những năm bắt đầu công. cuộc đôi mới. Điều này được thê hiện rỏ trong các công trình nghiên cứu về NNL. NNL cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực phẩm chất và đạo đức của người lao động.
Nó là tổng thể NNL hiện có thực tế và tiềm năng được chuân bị sẵn sàng đề tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một Quốc gia hay một địa phương.17] NNL là khái niệm có nội hàm phong phú hơn khái niệm nhân lực, NNL là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ tri thức, học vấn, nghề nghiệp .) tạo thành năng lực của con người (cá nhân và cộng đồng) với tư cách chủ thê hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đầy sự phát triển của. NNL nói lên tìm năng của con người về cả lượng (quy mô dân số, cơ cầu độ. tuổi, phân bố dân cư,.) và chất (tổng hợp những đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức.) có thể huy động, khai thác để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.544-545] Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao. gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang phân bố.
vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào, và có thể coi đây là NNL xã hội. Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì NNL được hiểu theo. nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. tr7-8] Theo PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quân, NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động, làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.7-8] Xét về tổng thể, NNL là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng, cơ cấu (ngành nghề, trình độ đảo tạo, cơ cấu vùng miễn, cơ cấu ngành kinh tế) và chất lượng bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành, và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế.16] Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tông hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hị tại căng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tô chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực trên thế giới. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động phỗ thông. Khái niệm lao động phổ thông Việt Nam là nước đang phát triển với dân số trên 90 triệu người trong đó tỷ lệ lao động phô thông trong cơ cấu dân số chiếm tỷ lệ lớn. Vậy, lao động phô thông là gì? Lao động phô thông là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong xã hội.
Nó được hiểu một cách đơn giản theo 2 cách như sau: “Thứ nhất, lao động phô thông là những người lao động làm những công việc giản đơn, làm việc chân tay. Những công việc đơn giản, chỉ cần người lao động thực hiện thao tác chân tay là hoàn thành quá trình lao động. Thứ hai, lao động phỏ thông là lao động giản đơn, lao động không đòi hỏi phải đảo tạo về chuyên môn cũng có thể thực hiện được một công việc nào đó. định nghĩa này, khái niệm lao đội \g phổ thông cũng không khác xa so với khái niệm thứ nhất.
Nhưng khái niệm này nhấn mạnh, người lao động không cần qua đảo tạo. cũng có thể thực hiện được, và hoàn thành được công việc được giao. Do đó, người lao động phổ thông không đòi hỏi phải qua đảo tạo về chuyên môn và cũng không đồi hỏi người lao động phải có chuyên môn cao Như vậy, chúng ta có thể hiểu lao động phổ thông là những người lao động không cần qua đào tạo về chuyên môn cũng có thể đảm nhận và hoàn thành công việc đơn giản, công việc chân tay mà họ được giao. Đặc điểm của lao động phổ thông trong các doanh nghiệp sản xuất Có 5 đặc điểm cơ bản của lao động phổ thông trong các doanh nghiệp này như Thứ nhất, lao động phổ thông là người lao động có trình độ chuyên môn không cao do yêu cầu tính chuyên môn trong công việc ho đảm nhận không cao.
chỉ là những công việc giản đơn, công việc chân tay, không yêu cầu người lao động phải có trình huyện môn cao. “Thứ hai, hầu hết lao động phổ thông trong các doanh nghiệp sản xuất có xuất thân từ nông dân do vậy họ có bản tính cần cù, chăm chỉ. Do làm việc tại các doanh nghiệp sản xuất ôn định hơn làm nông nghiệp, tranh thủ được thời gian rảnh theo vụ 11 mùa và nó mang lại thu nhập cao hơn cho người lao động; hoặc do sự chuyển đôi cơ cấu ở địa phương nên người nông dân không còn đất canh tác mà chuyên sang lim công nhân tại các doanh nghiệp sản xuất. Do đó, lao động phô thông có những phẩm chất tốt của người nông dân Việt Nam là cần cù, chăm chỉ, siêng năng, chịu được nặng nhọc.
“Thứ ba, lao động phô thông là những người chưa qua đào tạo, tay nghề thấp và chủ yếu được đảo tạo trong quá trình làm việc. Do yêu cầu, đòi hỏi để đảm nhận công việc của lao động phỏ thông là thấp nên, họ không cần phải qua bất kì khoá đào tạo nào về chuyên môn. Công việc họ đảm nhận là công việc đơn giản, chân tay nên họ sẽ được chỉ bảo, đảo tạo ngay trong quá trình làm việc. Hình thức này giúp.
người lao động nắm bắt công việc nhanh, hiệu quả mà lại không tốn chỉ phí và thời gian dao tạo. Thứ tư, tính kỷ luật của người lao động phổ thông Việt Nam chưa cao, do trình độ dân trí thấp nên họ không biết hết các quyền lợi của mình như y tế, bảo hiểm, v. Một trong những hạn chế lớn nhất của những người lao động phổ thông này đó chính là sự hiểu biết các quyền lợi và các nghĩa vụ của mình nên họ không được hưởng hết những ưu đãi theo quy định pháp luật và cũng không làm tròn nhiệm vụ của người lao động Thứ năm, tính chuyên môn hoá trong các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản rât cao nên ột người lao động chỉ tập trung vào một việc, phận. Đây là đặc điểm thấy rõ trong các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản hiện nay.