CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE PHAT TRIÊN NGUÔN NHÂN LỰC 'TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày cảng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động [11] b. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh: -_ Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội: nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường. -_ Với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động -_ Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân của những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Từ các cách tiếp cận nêu trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số khái niệm về nguồn nhân lực như sau: -_ Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tat ca những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thẻ lực và trí lực [8] -_ Nguồn nhân lực được xem xét theo quy mô (tức số lượng) và cơ cấu, qua đó phản ánh được chất lượng lao động.
Số lượng lao động trong doanh nghiệp nhiều hay ít do yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Số lượng lao động được tính theo số có mặt trong danh sách và số bình quân [11] Từ khái niệm trên cho thấy nguồn nhân lực gồm có số lượng, cơ cấu và chất lượng, Số lượng nguôn lực: Thể hiện quy mô của doanh nghiệp, số lượng lao động nhiều thì quy mô doanh nghiệp lớn và ngược lại số lượng lao động ít thì quy mô doanh nghiệp nhỏ. Đây là số lượng lao động hiện có trong doanh nghiệp dé tham gia vào các hoạt động hiện tại hoặc dự kiến nhu cầu trong tương lai Cơ cấu nguồn nhân lực: Thể hiện tính đa dạng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp thông qua các tiêu chí về trình độ học vấn, chuyên môn, độ tuổi, giới tính. Tính đa dạng của cơ cấu nguồn nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Chất lượng nguồn nhân lực: Thể hiện năng lực của người lao động trong công việc và trong cưộc sống, là động lực thúc đây người lao động trong quá trình tham gia thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua các tiêu chí: " Thể lực: là sức khỏe, là thể chất, là sức chịu đựng áp lực công việc và cách xử lý sự căng thẳng trong công việc của người lao động. " Trí Lực: là tất cả những gì thuộc về trí tuệ, tỉnh thần, năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, giá trị và phẩm chất của người lao động. * Nhân cách: là những đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị của con người.
Nó nói lên mặt tâm lý - xã hội và cốt cách làm người của mỗi cá nhân. Như vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể các tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhát là tiềm năng lao động, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách, được huy động vào quá trình lao động, nhằm đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: ~ Phát triển nguồn nhân lực là nhằm tăng năng lực nguồn nhân lực vượt các yêu cầu của công việc hiện tại, thể hiện nỗ lực cải thiện khả năng nhân viên trong xử lý đa dạng các nhiệm vụ [1] - Các nhà nghiên cứu của UNDP (United Nations Development Programme — Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc) cho rằng phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động, chỉ phối của năm nhân tố: giáo dục và đào tạo, sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường làm việc, sự giải phóng con người Trong đó, giáo dục và đảo tạo là nền tảng, còn các nhân tố khác là thiết yếu để duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững của van đề nguồn lực. UNDP nhấn mạnh rằng “Các thị trường chỉ là phương tiện, sự phát triển con người mới là mục đích” [3] - Theo ILO (International Labout Organization - Tổ chức Lao động quốc tế), phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh ngành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả van dé đào tạo nói chung, mà còn là phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Một số nhà nghiên cứu thì cho rằng: - Phát triển nguồn nhân lực đề cập đến kinh nghiệm học tập có tổ chức do người chủ doanh nghiệp tài trợ. Nó được thiết kế và thực hiện với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc và cải thiện điều kiện con 10 người thông qua việc đảm bảo kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân [3a] Thiết kế và thực hiện hoạt động phát triển nguôn nhân lực, với mục tiêu nâng cao kết quả làm việc của người lao động. Trong đó, môi trường và văn hóa doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng trong thiết kế đào tạo và van dụng những kiến thức này đề tác động đến kết quả thực hiện công việc. Cải thiện điều kiện con người, nhằm nhắn mạnh vào sự quan trọng, giá trị cá nhân và nhu cầu, tình cảm, mong muốn khác nhau, với niềm tin rằng, con người có khả năng học liên tục và phát triển trong cuộc sống của họ.
Đảm bảo cam kết giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu cá nhân, khi sự tôn trọng người lao động trong việc đạt được mục tiêu cá nhân thì tổ chức có thể có được sự cam kết của người lao động và tang năng suất lao động. - Phát triển nguồn nhân lực là phát triển về năng lực và động cơ, “năng. lực” (theo cách hiểu ngày nay) là một khái niệm mới dần thay thế khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn". Trong khi khái niệm “nghiệp vụ chuyên môn” được đối “tĩnh” và mang tính tập thể thì khái niệm “øăng /c ” mang tính linh hoạt hơn, là một công cụ sắc bén, nó phù hợp hơn với hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong một thế giới việc làm luôn biến động.
Năng lực, xét theo phạm trù thường dùng nhất, năng lực làm việc tương ứng với kiến thức, kỹ năng, và hành vi — thái độ cần huy động đề thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng vị trí làm việc [13] Kiến thức, là hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức có thể tiếp thu thông qua các phương pháp sư phạm truyền thống: thuyết trình, chứng minh, diễn giảng. Kỹ năng, là làm chủ khả năng áp dụng kỹ thuật, phương pháp và công cụ để giải quyết các công việc. Kỹ năng chỉ có thể được hình thành thông qua thực làm, cùng với việc áp dụng các phương pháp cụ thẻ.
Do vậy, để đánh giá il kỹ năng cần dựa vào mức độ thành thao trong việc thực hiệt công việc. Hành vi - thái độ, là làm chủ hành vi, thái độ của bản thân, làm chủ trạng thái tỉnh thần của bản thân. Hành vi - thái độ được hình thành trong cùng một điều kiện như hình thành kỹ năng. - Phát triển nguồn nhân lực là tổng thé các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển [12] Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần của người lao động.
Trí lực của nguồn nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tình thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tỉnh thần trách nhiệm cao. - Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Cả ba mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu trong phát triển nguồn lực gắn chặt với nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất của phát triển là chất lượng của nguồn nhân lực phải được nâng cao [2] Như vậy có thể hiểu rằng: Phát triển nguôn nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguôn nhân lực theo hướng tiến bộ (wề trí lực, thể lực và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguôn nhân lực cho mục tiêu phát triển doanh nghiệp từng thời kì và cá nhân người lao động.
Ý nghĩa của vị phát triển nguồn nhân lực - Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của. Nó là chìa khóa giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh, nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. - Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng cũng như tạo điều kiện để người lao động nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, phát triển kỹ năng, cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp của bản thân đáp ứng được nhiệm vụ được giao trong nhiệm vụ hiện tại và tương lai. - Tạo sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, sự tương thích giữa người lao động với công việc trong trước mắt và lâu dài.
Đồng thời tạo. động cơ làm việc tích cực. - Phát triển nguồn nhân lực giúp cho nhà quản lí có cách nhìn mới, đầy đủ hơn về xây dựng đôi ngũ lao động có đủ năng lực cần thiết, đáp ứng mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. - Phát triển nguồn nhân lực cũng là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những giải pháp chống thất nghiệp.