Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận thực tiễn về phát triển NNL của doanh nghiệp Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3. Thực trạng phát triển NNL khối Kinh doanh tại công ty TNHH Thai Nakorn Patana Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội Chƣơng 4.
Một số giải pháp phát triển NNL khối Kinh doanh tại công ty TNHH Thai Nakorn Patana Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội Kết luận 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về phát triển NNL đã đƣợc quan tâm và nghiên cứu khá rộng rãi trong các tài liệu của nƣớc ngoài. Trong đó, công trình của Jim Stewart và Graham eaver chủ biên (2004) là một trong những công trình tiêu biểu nhất.
Công trình này đã chỉ ra những đặc trƣng của tổ chức có quy mô nhỏ và các ý kiến đề xuất để xây dựng và triển khai các công trình nghiên cứu về phát triển NNL hiệu quả. Kết quả từ công trình này cho thấy rằng có những phƣơng thức tiếp cận hiệu quả để phát triển NNL tại các tổ chức có quy mô nhỏ. Theo Stivastava M P 1997 , NNL là tất cả vốn nhân lực; vốn đƣợc coi là nguồn đặc biệt của sản xuất và là loại cải có thể gia tăng sự giàu có cho mỗi nền kinh tế. Tác giả chỉ ra ba lợi ích thiết thực của NNL bao gồm: khả năng sinh doanh thu trong tƣơng lai, việc duy trì và phát triển sau khi đƣợc đầu tƣ hợp lý mà không áp lực về khối lƣợng vốn, và tính sáng tạo cao.
Do đó, việc đầu tƣ vào vốn nhân lực đƣợc cho là có hiệu quả đầu tƣ cao hơn so với các nguồn lực khác. Các công trình nghiên cứu khác cũng đã đƣợc thực hiện để nghiên cứu và phát triển NNL trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ví dụ nhƣ công trình của Janice Jones 2004 về công tác đào tạo và nâng cao hoạt động phát triển doanh nghiệp trong các doanh nghiệp sản xuất ở c, hay công trình của David Devins và Steven Johnson 2003 về công tác đào tạo và phát triển trong các doanh nghiệp ở Anh. Theo ấn phẩm của Russell, Joyce và ernardin H.
John 1998 , sự tăng trƣởng kinh tế của các quốc gia hiện nay không còn phụ thuộc vào tiết kiệm và tích lũy tƣ bản nhƣ trƣớc đây mà chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố nhân lực, công nghệ, chính trị và văn hóa. Nghiên cứu này cũng tập trung vào việc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả để giúp doanh nghiệp có đƣợc lợi thế cạnh tranh. 6 George T Milkovich và John W oudreau 2002 đã đƣa ra định nghĩa về phát triển nguồn nhân lực NNL và cho rằng đào tạo là công cụ chủ yếu để phát triển NNL. Trong nghiên cứu của Peter Mc Graw 2014 về các xu hƣớng và thực tiễn phát triển NNL ở c, các chính sách thu hút, đào tạo và đãi ngộ cho ngƣời lao động trong hoạt động phát triển NNL của các công ty đƣợc chỉ ra để giảm thiểu các phản ứng bất ổn kinh tế.
Mặc dù có rất nhiều những bất đồng trong bối cảnh phát triển cũng nhƣ thời điểm và điều kiện tiến hành nghiên cứu, nhƣng những nghiên cứu trên đã chỉ rõ sự cần thiết trong việc phát triển đội ngũ nhân lực trong từng tổ chức và doanh nghiệp. Các nghiên cứu trên còn khẳng định rằng việc đầu tƣ cho nhân lực sẽ có kết quả cao và lâu dài hơn so với việc đầu tƣ cho những nguồn phụ. Các hoạt động nghiên cứu phát triển NNL đƣợc triển khai trên các lĩnh vực chủ yếu là phát triển NNL, tuyển dụng và đào tạo. Tóm lại, phát triển NNL là một chủ đề đƣợc quan tâm rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế hiện nay.
Có rất nhiều điểm mạnh của NNL, bao gồm tính sáng tạo cao, khả năng sinh doanh thu trong tƣơng lai và việc duy trì sau khi đƣợc đầu tƣ hợp lý. Việc áp dụng các biện pháp để phát triển NNL thƣờng đƣợc ứng dụng ở các tổ chức có quy mô nhỏ hoặc vừa. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phƣơng thức hiệu quả để tăng cƣờng vốn nhân lực trong sản xuất kinh doanh. Tình hình nghiên cứu trong nước Cho tới nay cũng đã có tƣơng đối nhiều công trình khoa học tại Việt Nam có đề tài về phát triển NNL.
Ở phạm vi quốc gia, nghiên cứu của Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996) trình bày một số kinh nghiệm phát triển NNL, trong đó có thông tin mô hình phát triển NNL ở một vài quốc gia trên thế giới. Ở phạm vi doanh nghiệp, Trần Thị Nhung và Nguyễn Duy Dũng 2005 đã khuyến nghị cho nhóm doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam về định hƣớng phát triển NNL dựa trên một vài ví dụ thành công của những công ty lớn từ Nhật Bản. Những nội dung cơ bản để quản lý và phát triển NNL trong một tổ chức đã đƣợc Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) trình bày đã xác định việc đào tạo 7 và phát triển NNL là điều kiện tiên quyết để mỗi tổ chức có năng lực hoạt động cao có thể sống còn. Lê Thị Hồng Điệp (2012) đã trình bày và đề xuất những khuyến nghị chính sách đào tạo nhằm nâng cao chất lƣợng NNL chất lƣợng cao ở Việt Nam.
Trong luận án "Nâng cao chất lƣợng NNL tại cộng đồng doanh nghiệp đồ gỗ Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Cẩm (2011) đã nhấn mạnh các yếu tố trí lực (trình độ học vấn và trình độ chuyên môn và thâm niên công tác, kỹ năng) và thể lực (thể chất, sức khoẻ) và tâm lực (thái độ làm việc, tâm lý làm việc và khả năng chịu áp lực công việc) là 3 yếu tố chính giúp đánh giá NNL của một doanh nghiệp. Bên cạnh đó trong nhóm yếu tố xã hội bao gồm tổ chức hoạt động quản lý và giám sát; đào tạo ngƣời lao động; sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; sự chi phối của chủ điều hành doanh nghiệp lên chất lƣợng NNL cũng đƣợc nói tới trong luận án. Tại luận văn của tác giả Nguyễn Hồng Quân (2019) với đề tài "Nâng cao chất lƣợng NNL ở công ty cổ phần dƣợc phẩm An Châu" cũng nhấn mạnh ra, 3 yếu tố liên quan đến chất lƣợng NNL của doanh nghiệp gồm: thể lực, trí lực và tâm lực. Trong đó, nhóm hoạt động nâng cao chất lƣợng NNL đƣợc nói tới gồm tổ chức; quản lý và bố trí lao động; đào tạo bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để tăng động lực làm việc nhằm nâng cao thể lực của ngƣời lao động.
Luận án "Phát triển NNL chất lƣợng cao tại tập đoàn dầu khí Việt Nam đến năm 2025" của tác giả Nguyễn Phan Thu Hằng (2017) đã nhấn mạnh vai trò của chất lƣợng NNL chất lƣợng cao của tập đoàn dầu khí Việt Nam đồng thời đƣa ra các tiêu chí cấu thành chất lƣợng NNL chất lƣợng cao. a tiêu chí đƣợc nhắc tới là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Tuy nhiên, đối với ngành dầu khí thì những tiêu chí cấu thành chất lƣợng NNL chất lƣợng cao còn bổ sung thêm bao gồm: Phẩm chất và thái độ, tri thức, kỹ năng và thể lực. Theo Lê Thị Việt Hà và Lê Nguyễn Nhật Bình (2021) trên tạp chí công thƣơng về "Giải pháp phát triển NNL tại công ty Dƣợc phẩm và dịch vụ Y tế Khánh Hội" đã phân tích những nhân tố tác động đối với NNL của công ty bao gồm những nhân tố bên ngoài công ty (bao gồm Luật pháp và chính sách của Nhà nƣớc; tình 8 hình phát triển kinh tế xã hội; sự phát triển khoa học kỹ thuật ngành y-dƣợc; thị trƣờng lao động) và những nhân tố bên trong công ty (bao gồm quan điểm của Ban lãnh đạo công ty về nguồn lực cho phát triển NNL; các yếu tố thuộc về bản thân ngƣời lao động).
Từ thực tế đó, các tác giả cũng đã đề ra những giải pháp để phát triển NNL của công ty khá sát với thực tiễn và có tính bền vững. Khoảng trống nghiên cứu Nhƣ phân tích nói trên đã có thể khẳng định không những trên thế giới mà ngay ở Việt Nam, từ lâu cũng đã có những nghiên cứu có liên quan tới phát triển NNL. Tại nƣớc ngoài cũng đã có những công trình nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ tƣơng hỗ có ảnh hƣởng ngang nhau của phát triển NNL đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức và doanh nghiệp. Những yếu tố có sự ảnh hƣởng đối với NNL của tổ chức doanh nghiệp cũng đƣơc nghiên cứu và chỉ ra qua các công trình nghiên cứu.
Một số công trình đã nêu ra các kiến nghị về giải pháp thiết thực với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa mới trong phát triển NNL. Tuy nhiên, bối cảnh thực tế ở Việt Nam hiện nay cũng khác rất nhiều so với bối cảnh của các công trình nghiên cứu trên thế giới. Do đó, chƣa thể ứng dụng đƣợc ngay các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn tại các doanh nghiệp ở Việt Nam. Còn ở Việt Nam, những nghiên cứu trƣớc đây tuy đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của phát triển NNL của doanh nghiệp trong bối cảnh mới; tuy nhiên phần lớn kết quả nghiên cứu mới chỉ đƣợc đánh giá tƣơng đối sơ lƣợc ở phạm vi, cấp độ quốc gia và cấp độ lĩnh vực quản lý của doanh nghiệp.
Nhƣ vậy, về nội dung tổng quan có thể khẳng định phát triển NNL tác động vẫn đóng vai trò then chốt và có ảnh hƣởng trực tiếp đối với kết quả kinh doanh cũng nhƣ năng lực quản trị của doanh nghiệp. Mặc dù trong ngành dƣợc phẩm không có nghiên cứu riêng biệt nào xác định phát triển NNL có ảnh hƣởng cụ thể thế nào đối với doanh thu, nhƣng có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự ảnh hƣởng của NNL đối với tình hình kinh doanh và sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tại mỗi một giai đoạn phát triển khác nhau các yêu cầu phát triển NNL trong mỗi doanh nghiệp cũng khác nhau. Đồng thời ở mỗi một ngành nghề và lĩnh vực cũng 9 có các yêu cầu đặc thù riêng biệt đối với mỗi ngành.
Điều này chỉ ra các yêu cầu thực tiễn và sự đổi mới cấp thiết của doanh nghiệp về chiến lƣợc và quy hoạch phát triển NNL nhằm thích nghi đƣợc với sự biến đổi của môi trƣờng kinh doanh và hội nhập toàn cầu.