Chương 1: Những vấn đề chung về thu BHXH bắt buộc khối DN NQD Chương 2: Thực trạng công tác thu BHXH khối DN NQD trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Chương 3: Những giải pháp chủyếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH khối DN NQD trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC KHỐI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong cuộc sống, để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập. Tuy nhiên, không phải NLĐ nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nói trên, các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có những điều kiện cần thiết còn tăng lên, thậm chí có thể xuất hiện thêm nhu cầu mới như khi ốm đau cần được khám chữa bệnh. BHXH ra đời giải là pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn nêu trên. BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển. Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về BHXH.
Khi Luật BHXH chưa ra đời thì khái niệm BHXH được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: - Từ giác độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai 11 nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của Pháp luật (nghỉ hưu) hoặc chết. - Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của Pháp luật. - Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội… - Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo biểm xã hội.
BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Phân biệt bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại 1. Sự giống nhau - Hai loại bảo hiểm này được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được đòi hỏi quyền lợi. - Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảo hiểm đang tham gia.
12 - Phương thức hoạt động của hai loại hình bảo hiểm này đều mang tính “cộng đồng - lấy số đông bù số ít” tức là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người gặp phải biến cố rủi ro gây ra tổn thất. Sự khác nhau - Mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại là lợi nhuận. Mục tiêu hoạt động BHXH là nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho NLĐ và các thành viên trong gia đình họ. Vì vậy, hoạt động BHXH là hoạt động phi lợi nhuận và nhằm mục đích an sinh xã hội.
- Phạm vi hoạt động của BHXH liên quan trực tiếp đến NLĐ và các thành viên trong gia đình họ và chỉ diễn ra trong từng quốc gia. Hoạt động bảo hiểm thương mại rộng hơn, không chỉ diễn ra trong từng quốc gia mà còn trải rộng xuyên quốc gia, có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội bao gồm cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. - Cơ sở nguồn tiền đóng, mức đóng, tỷ lệ đóng BHXH hoàn toàn dựa vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của NLĐ. BHXH thực hiện các quy định theo chính sách xã hội, sự ổn định chính trị của quốc gia.
- Bảo hiểm thương mại thực hiện theo cơ chế thị trường và nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Quan hệ giữa mức đóng góp và mức hưởng là quan hệ tương đồng thuần túy, tức là ứng với mỗi mức đóng góp bảo hiểm nhất định thì khi xảy ra rủi ro sẽ nhận được một mức quyền lợi tương ứng quy định trước. Bản chất của bảo hiểm xã hội BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển.
Thực chất BHXH là sự tổ chức bù đắp hậu quả của những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm. BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước để thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội. 13 Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở nền tảng là quan hệ lao động giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể là NLĐ hoặc có cả NLĐ và NSDLĐ.
Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là các cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và được Nhà nước bảo trợ. Bên được BHXH chính là NLĐ và gia đình của họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết. BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội. Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội.
Về mặt xã hội, do có sự chia sẻ rủi ro của BHXH, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”. Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Khác với DN nhà nước, các DN NQD ra đời sau, chủ yếu được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường (trừ hợp tác xã ra đời năm 1950). Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với đường lối của Đảng về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần kể từ đó DN NQD mới có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế NQD là rất ít và không phát triển. Đến ngày 12/9/1999, Quốc hội nước ta đã chính thức thông qua Luật DN, thay thế cho Luật DN tư nhân và Luật Công ty, tạo cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của các DN NQD như: DN tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh.
14 DN NQD là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh bao gồm các DN nhỏ và vừa, cả các DN lớn khác do tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh. DN NQD được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là: công ty TNHH, công ty TNHH một thành viên, Công ty hợp danh, DN tư nhân, công ty cổ phần và hợp tác xã. DN NQD không bao gồm DN cổ phần chuyển từ nhà nước sang và các DN có vốn ĐTNN. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh DN NQD đa dạng về loại hình, có thể là DN tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần hay công ty hợp doanh.
Khối DN NQD ở nước ta chiếm trên 96% là DN vừa và nhỏ, chiếm tỷ lệ chủ yếu về số lượng DN. Tuy có nhiều lợi thế về tính năng động, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, cơ chế quản lý linh hoạt dễ thích ứng với những biến động của thị trường, dễ thay đổi công nghệ sản phẩm, và đa dạng về loại hình. Nhưng hầu hết các DN NQD đều ẩn chứa những yếu tố chưa mạnh như quản trị, tầm nhìn, năng lực quản lý. Các DN NQD chiếm số lượng lớn nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh còn thấp, thiếu chiến lược kinh doanh bền vững, sử dụng ít vốn và lao động.
Do phần lớn các DN NQD có mức vốn thấp nên khả năng trang bị máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến là rất hạn chế, mức trang bị tài sản cố định cho một lao động ở mức rất thấp. Do trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật lạc hậu, tay nghề của công nhân thấp hơn so với DN nhà nước hoặc DN có vốn ĐTNN.