mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về công tác thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng. Chƣơng 2: Công tác thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng tại Công ty Công ty Cổ phần Xây dựng Hạ tầng CII. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng tại Công ty Cổ phần Xây dựng Hạ tầng CII. 3 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH, QUYẾT TOÁN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG 1.
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và những ảnh hƣởng của nó đến thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng 1. Sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong). Sản phẩm xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học – công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định. Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lƣợng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: các chủ đầu tƣ; các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tƣ vấn xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tƣ thiết bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng; các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính; các cơ quan quản lý Nhà nƣớc có liên quan.
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần dùng để lắp đặt các máy móc thiết bị của công trình xây dựng để đƣa chúng vào hoạt động. Tuỳ theo hình thức đấu thầu mà sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng đƣợc phân ra hai trƣờng hợp: - Doanh nghiệp xây dựng chỉ nhận thầu phần xây lắp thì sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng đem chào hàng khi tranh thầu xây dựng chỉ là các giải pháp công nghệ và tổ chức xây dựng công trình đang đƣợc đấu thầu. - Doanh nghiệp xây dựng áp dụng hình thức chìa khoá trao tay thì sản phẩm của tổng thầu xây dựng bao gồm cả phần giải pháp công nghệ, tổ chức xây dựng công trình và phần thiết kế kiến trúc, kết cấu công trình xây dựng (mặc dù phần này tổ chức tổng thầu xây dựng có thể đi thuê tổ chức tƣ vấn thiết kế thực hiện, nhƣng ngƣời chủ trì vẫn là tổ chức tổng thầu xây dựng). Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp đƣợc tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị công nghệ và lao động, gắn liền với đất (bao gồm cả khoảng không, mặt nƣớc, mặt biển và thềm lục địa).
Công trình xây dựng bao gồm 4 một hạng mục hay nhiều hạng mục công trình nằm trong dây chuyển công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh (có tính đến việc hợp tác sản xuất) để sản xuất ra sản phẩm nêu trong dự án dầu tƣ. Vì các công trình xây dựng thƣờng rất lớn và phải xây dựng trong nhiều năm, nên để phù hợp với yêu cầu của công việc thanh quyết toán và cấp vốn ngƣời ta phân ra thành sản phẩm xây dựng trung gian và sản phẩm xây dựng cuối cùng. Sản phẩm xây dựng trung gian có thể là các gói công việc xây dựng, các giai đoạn hay các đợt xây dựng đã hoàn thành và bàn giao thanh toán. Sản phẩm xây dựng cuối cùng là các công trình xây dựng hay hạng mục công trình xây dựng đã hoàn thành và bàn giao đƣa vào sử dụng.
Trƣờng hợp này sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ tính đến phần mà họ vừa sáng tạo ra. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng Ngành xây dựng có những đặc thù nếu đƣợc xem xét riêng thì cũng có ở các ngành khác, nhƣng khi kết hợp chúng lại thì chỉ xuất hiện trong Ngành xây dựng, vì thế cần đƣợc nghiên cứu riêng. Các đặc thù ở đây chia làm bốn nhóm: bản chất tự nhiên của sản phẩm; cơ cấu của ngành cùng với tổ chức quá trình xây dựng; những nhân tố quyết định nhu cầu; phƣơng thức xác định giá cả. Sản phẩm cuối cùng của công trình xây dựng thƣờng to lớn, nặng và đắt tiền.
Nó đòi hỏi một khu vực địa lý rộng và hầu hết đƣợc làm riêng theo yêu cầu của mỗi khách hàng. Phần lớn cấu thành của sản phẩm đƣợc sản xuất ở nơi khác (thƣờng của các ngành khác), do vậy nó quyết định tới cơ cấu của Ngành xây dựng, tới việc chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong lĩnh vực thi công xây lắp. Những đặc điểm sản phẩm xây dựng có ảnh hƣởng lớn đến phƣơng thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong Ngành xây dựng, làm cho việc thi công xây lắp công trình xây dựng có nhiều điểm khác biệt so với việc thi công các sản phẩm của các ngành khác. Sản phẩm xây dựng với tƣ cách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thƣờng có đặc điểm nhƣ sau: - Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và cả về phƣơng pháp chế tạo.
Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàng của chủ đầu tƣ (ngƣời mua), điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng. 5 - Sản phẩm là những công trình đƣợc xây dựng và sử dụng tại chỗ nên phân phối tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Vốn đầu tƣ xây dựng lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài. Do đó, khi tiến hành xây dựng phải huy động một lực lƣợng lớn nhân công, máy móc, thiết bị phục vụ thi công.
Vì vậy, khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại, hoặc sửa chữa gây thiệt hại vốn đầu tƣ và giảm tuổi thọ công trình. - Sản phẩm thƣờng có kích thƣớc lớn, trọng lƣợng lớn. Số lƣợng, chủng loại vật tƣ, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp, thƣờng xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ.
- Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phƣơng diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phƣơng diện sử dụng công trình. - Sản phẩm xây dựng là tổng hợp của nhiều bộ phận, kết cấu cấu thành từ nhiều loại nguyên, vật liệu tạo nên. - Sản phẩm xây dựng liên quan nhiều đến cảnh quan và môi trƣờng tự nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cƣ của địa phƣơng nơi đặt công trình. - Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá – nghệ thuật và quốc phòng.
Sản phẩm chịu nhiều ảnh hƣởng của nhân tố thƣợng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt…Có thể nói sản phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học – kỹ thuật và văn hoá trong từng giai đoạn phát triển của một đất nƣớc. Ảnh hưởng của đặc điểm sản phẩm xây dựng đến thanh, quyết toán hợp đồng xây dựng Sản phẩm xây dựng thƣờng đƣợc lắp đặt cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu. Công tác điều tra , khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên, không chính xác sẽ dẫn đến lãng phí phải sửa chữa, thậm chí phải dỡ bỏ do các lỗi thiết kế hoặc thi công. Từ đặc điểm này đòi hỏi công tác quản lý tài chính cần phải kiểm tra việc điều phối, 6 sử dụng và quản lý vốn ngay từ khâu đầu tiên, xác định chủ trƣơng đầu tƣ, lựa chọn địa điểm, điều tra, khảo sát, thăm dò để dự án đầu tƣ đảm bảo tính khả thi cao.
Sản phẩm xây dựng thƣờng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, chi phí đầu tƣ lớn (vật tƣ, lao động, máy thi công…) do vậy trong công tác quản lý tài chính đòi hỏi phải làm tốt công tác kế hoạch vốn đầu tƣ, lập định mức công tác kỹ thuật và quản lý theo định mức, có giải pháp quản lý chi phí và quản lý công tác vốn đầu tƣ giữa chủ đầu tƣ với các nhà thầu, giữa chủ đầu tƣ với các cơ quan cấp phát cho vay vốn để đầu tƣ xây dựng. Sản phẩm xây dựng tiêu hao lớn về thời gian, do đó chế độ thanh toán thƣờng đƣợc quy định thành các “điểm dừng kỹ thuật” để làm giai đoạn nghiệm thu khối lƣợng, chất lƣợng. Điều này đòi hỏi các nhà thầu phải chuẩn bị đủ nguồn vốn nhằm đẩy nhanh tiến độ công trình hoàn thành hạng mục làm cơ sở cho việc thanh, quyết toán. Công tác tổ chức sản xuất xây dựng phức tạp vì trong quá trình thi công thƣờng có nhiều chủ thể tham gia nhƣ: Tƣ vấn thiết kế, tƣ vấn giám sát, ban quản lý dự án, các nhà thầu thi công, nhà cung cấp vật tƣ thiết bị,… Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp tốt giữa các chủ thể tham gia trong quá trình xây dựng mới đảm bảo đúng tiến độ, làm căn cứ cho việc thanh, quyết toán.
Vốn đầu tƣ thuộc ngân sách nhà nƣớc 1.1 Khái niệm Vốn ngân sách Nhà nƣớc bao gồm vốn ngân sách trung ƣơng, vốn ngân sách cấp Tỉnh, vốn ngân sách cấp huyện, thị xã. Vốn ngân sách Nhà nƣớc đƣợc hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế và đƣợc Nhà nƣớc duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các đơn vị thực hiện các kế hoạch Nhà nƣớc hàng năm, kế haọch 5 năm và kế hoạch dài hạn. Đối với cấp hành chính là huyện, thị xã thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tƣ bao gồm vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc cấp thông qua sở Tài chính, vốn ngân sách của Tỉnh. 7 Là nguồn vốn đƣợc huy động chủ yếu từ nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí.