CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp a, Khái niệm về lập kế hoạch Theo J. Kế hoạch chính thức được phổ biến và áp dụng cho nhiều người, có nhiều khả năng xảy ra trong các dự án ví dụ như ngoại giao, công tác, phát triển kinh tế, các kế hoạch về thể thao, trò chơi, hoặc trong việc tiến hành kinh doanh khác”.
Scott Armstrong, 1986) Theo Bùi Đức Tuân (2005): “ Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra”. (Bùi Đức Tuân, 2005) Theo Đỗ Văn Phức (2008): “ Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu, lựa chọn các cặp sản phẩm – khách hàng và các nguồn lực trong tương lai gần hoặc xa cụ thể. Nguyễn Thị Liên Diệp (2015): “Lập kế hoạch là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó”.
b, Khái niệm sản xuất Có nhiều khái niệm khác nhau về sản xuất: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 2 Theo Wikipedia: Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại.Mác và Ph Anwgghen: Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ăngghen: Toàn tập) Theo Trương Đoàn Thể (2012): sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua việc trao đổi mua bán.
Theo Liên hợp quốc (2002): sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế ( một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền. (Declaration by United Nations, United Nations Website) c, Khái niệm kinh doanh Theo luật doanh nghiệp 2014: “ Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Theo Mai Văn Bưu (2005): “ Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về kinh doanh.
Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu, kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 3 Kinh doanh được phân biệt với các hoạt động khác bởi các đặc điểm chủ yếu sau: Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là các cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp. Kinh doanh phải gắn liền với thị trường.
Thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng – không có thị trường, thì không có khái niệm kinh doanh. Kinh doanh phải gắn với vận động của đồng vốn. Chủ thể kinh doanh không chỉ có vốn mà còn cần phải biết cách thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng. Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức tư bản của C.Mác, có thể xem công thức kinh doanh: T- H – SX.H’ – T’: chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ (T) mua những tư liệu sản xuất (H) để sản xuất ra những hàng hóa (H’) theo nhu cầu thị trường rồi đem những hàng hóa (H’) theo nhu cầu của thị trường rồi đem những hàng hóa này bán cho khách hàng trên thị trường nhằm thu được số lượng tiền tệ lớn hơn (T’).
Mục đích chủ yếu của kinh doanh là sinh lời – lợi nhuận (T’ – T >0)”. d, Khái niệm lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thì chịu ảnh hưởng nhiều của các nhân tố bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp tác động. Các yếu tố này có thể dự đoán được trước nhưng có những yếu tố không dự đoán được trước, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, doanh nghiệp cần có những phương án để khắc phục những thay đổi trong môi trường kinh doanh hiện này.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp có thể được hiểu là những hoạt động nhằm chuẩn bị các nguồn lực, lên phương án sản xuất kinh doanh cũng như các phương án phòng tránh các rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải nhằm hướng tới hiệu quả, đưa ra được phương án sản xuất kinh doanh tốt nhất cho doanh nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Vai trò của công tác lập KH Như chúng ta đã biết, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường chỉ khác là có sự can thiệp của nhà nước hay không và mức độ can thiệp như thế nào. Cơ chế thị trường đem lại nhiều ưu điểm cho bất kỳ nền kinh tế nào vì nó tạo ra sự năng động, thích nghi cao trước các biến động của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.
Nó mở ra vô vàn các cơ hội cho nền kinh tế mà thông qua đó làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, vững mạnh. Song cái gì cũng có tính hai mặt của nó, cơ chế thị trường mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đem lại không ít những khó khăn, hạn chế, các mối đe dọa cho nền kinh tế. Đó chính là các cuộc khủng hoảng thừa thiếu, tình trạng độc quyền, sự tự phát, lạm phát. gây ra sự mất ổn định cho nền kinh tế, làm lãng phí nguồn lực, phân hóa giàu nghèo và quan trọng hơn nữa chính là ô nhiễm môi trường đe dọa trầm trọng đến cuộc sống của toàn thế giới.
Khi đã theo cơ chế thì trường thì chúng ta phải tuân theo quy luật của nó. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải chấp nhận mạo hiểm để thu về lợi nhuận trong tương lai. Vậy doanh nghiệp phải làm gì để kinh doanh có hiệu quả? Câu trả lời chính là tất cả các tổ chức phải lập được kế hoạch. Bởi lập được kế hoạch sẽ giúp các tổ chức có phương hướng hoạt động, giảm sự tác động của những đổi thay, tránh được sự lãng phí dư thừa và thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra.
Chính vì vậy dối với doanh nghiệp công tác lập kế hoạch có vai trò cụ thể sau: - KH là công cụ đắc lực trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong một DN. Lập KH cho biết hướng đi của doanh nghiệp. Khi tất cả những người có liên quan biết được doanh nghiệp sẽ đi đâu và họ phải đóng góp những gì để đạt được mục tiêu đó thì đương nhiên họ sẽ phối hợp, hợp tác với nhau và làm việc một cách có tổ chức. Thiếu kế hoạch, thì việc đạt tới mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp là rất khó khăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 - Lập KH có tác dụng làm giảm tính bất ổn của DN. Sự bất định và thay đổi làm cho việc lập kế hoạch trở thành tất yếu và rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý. Lập kế hoạch buộc những nhà quản lý phải nhìn về phía trước, dự đoán được những thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp. - Lập KH có tác dụng làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp.
Khi lập KH thì những mục tiêu đã được xác định, những phương thức tốt nhất để đạt mục tiêu đã được lựa chọn nên sẽ sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả, cực tiểu hóa chi phí bởi vì nó chủ động vào các hoạt động hiệu quả và phù hợp. - Lập KH sẽ thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra đạt hiệu quả cao. Một doanh nghiệp hay một tổ chức nếu không có kế hoạch thì giống như là một khúc gỗ trôi nổi trên dòng sông thời gian. Một khi doanh nghiệp không xác định được là mình phải đạt tới cái gì và đạt tới bằng cách nào, thì đương nhiên sẽ không thể xác định được liệu mình có thực hiện được mục tiêu hay chưa, và cũng không thể có được những biện pháp để điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra.
Do vậy, có thể nói nếu không có kế hoạch thì cũng không có cả kiểm tra. Như vậy, lập KH là công tác đầu tiên và vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý. Nếu không có kế hoạch thì nhà quản lý có thể không biết tổ chức, khai thác con người và các nguồn lực khác của doanh nghiệp một cách hiệu quả, thậm chí sẽ không có được một ý tưởng rõ ràng về cái họ cần tổ chức và khai thác.