Chương 1: Lý luận chung về công tác kế toán Tài sản cố định tại Doanh nghiệp 1. Những vấn đề chung về tài sản cố định. Khái niệm và đặc điểm tài sản cố định. Khái niệm: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp (DN) phải có các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Khác với các đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…) thì các tư liệu lao động (máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các TSCĐ. Đó là những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các khoản chi phí đầu tư mua sắm các tài sản cố định vô hình… Thông thường một tư liệu lao động được coi là một TSCĐ phải đồng thời thỏa mãn bốn tiêu chuẩn cơ bản: - Tài sản phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường là 1 năm trở lên. - Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng TSCĐ đó.
- Tài sản phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Theo quyết định số 206/2006/QĐ- BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính thì TSCĐ phải có giá trị từ 10.000 đồng trở lên. - Nguyên giá được xác định một cách chắc chắn, đáng tin cậy. Những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn quy định trên được coi là công cụ lao động nhỏ, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Thanh Hoà - Lớp: QTL 201K 3 Khoá luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG Từ những nội dung trình bày trên có thể rút ra định nghĩa về TSCĐ trong doanh nghiệp như sau: TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản chủ yếu có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Đặc điểm tài sản cố định: Đặc điểm của TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi. Song giá trị của nó lại được chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.
Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được bồi đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Vai trò, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán tài sản cố định: TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật, là yếu tố chủ yếu thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác TSCĐ là “hệ thống xương” và “bắp thịt” của quá trình kinh doanh.Vì vậy trang thiết bị hợp lý, bảo quản và sử dụng tốt TSCĐ có ý nghĩa quyết định đến việc tăng năng suất lao động, tăng chất lượng kinh doanh, tăng thu nhập và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, TSCĐ có vai trò hết sức lớn lao và bất kỳ hoạt động kinh doanh nào muốn diễn ra đều phải có TSCĐ.Như trên đã nói TSCĐ là một hệ thông rất quan trọng với mỗi doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Thật vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành kinh doanh đều phải có TSCĐ, có thể là TSCĐ của doanh nghiệp, hoặc là TSCĐ đi thuê ngoài.Việc sử dụng TSCĐ hợp lý có một ý nghĩa hết sức quan trọng.Nó cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của TSCĐ góp phần làm giảm chi phí tăng lợi nhuận cho DN. Mặt khác sử dụng TSCĐ hợp lý là 1 điều kiện đảm bảo giữ gìn hàng hóa sản phẩm an toàn và cũng chính là điều kiện bảo quản TSCĐ. Nhiệm vụ của kế toán: - Ghi chép, phản ánh đầy đủ chính xác kịp thời số hiện có, tình hình tăng giảm TSCĐ của doanh nghiệp trên các mặt: số lượng, chất lượng, giá trị. Nguyễn Thị Thanh Hoà - Lớp: QTL 201K 4 Khoá luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG - Tính toán chính xác kịp thời số khấu hao TSCĐ, phân bổ đúng số khấu hao TSCĐ cho các đối tượng sử dụng.
- Phản ánh kiểm tra chặt chẽ các khoản chi phí sử dụng lớn TSCĐ, thời gian lập dự toán sửa chữa lớn TSCĐ. - Theo dõi ghi chép kiểm tra tình hình thanh lý nhượng bán TSCĐ. - Lập báo cáo TSCĐ, phân tích tình hình trang bị sử dụng TSCĐ. Phân loại và đánh giá tài sản cố định: 1.
Phân loại tài sản cố định: Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của DN. Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau đây: 1. Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện: Theo phương pháp này TSCĐ của DN được chia thành 2 loại: - TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình- TK211). - TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình- TK213).
TSCĐ hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái cụ thể như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, các vật kiến trúc… Những TSCĐ này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh. TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng, chi phí mua sắm bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá trị lợi thế thương mại… Cách phân loại này giúp cho DN thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ hữu hình và vô hình. Từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất. Nguyễn Thị Thanh Hoà - Lớp: QTL 201K 5 Khoá luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG 1.
Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng: Theo tiêu thức này toàn bộ TSCĐ của DN được chia thành 3 loại: - TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của DN. - TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: đó là những TSCĐ do DN quản lý và sử dung cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp như các công trình phúc lợi. Các TSCĐ sử dụng cho hoạt động đảm bảo an ninh quốc phòng của doanh nghiệp. - TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước: đó là những TSCĐ DN bảo quản hộ cho các đơn vị khác hoặc cho nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Cách phân loại này giúp cho DN thấy được cơ cấu TSCĐ của mình theo mục đích sử dụng của nó.Từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích sử dụng sao cho có hiệu quả nhất. Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế: Căn cứ vào công dụng kinh tế của TSCĐ, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp có thể chia thành các loại sau: - Nhà cửa, vật kiến trúc(TK 2111): là những TSCĐ của DN được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như nhà xưởng, trụ sở làm việc nhà kho, tháp nước, hàng rào, sân bay, đường xá, cầu cảng… - Máy móc thiết bị( TK 2112): là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh( SXKD) của DN như máy móc thiết bị động lực, máy móc công tác, thiết bị chuyên dùng… - Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn( TK 2113): là các loại phương tiện vận tải như phương tiện đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, hệ thống thông tin, đường ống dẫn nước… - Thiết bị dụng cụ quản lý( TK 2114): là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động SXKD như máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị khác,dụng cụ đo lường máy hút bụi, hút ẩm… Nguyễn Thị Thanh Hoà - Lớp: QTL 201K 6 Khoá luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG - Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm( TK 2115): là các loại vườn cây lâu năm như vườn chè, vườn cà phê, vườn cây cao su, vườn cây ăn quả, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn bò, đàn ngựa… - Các loại TSCĐ khác( TK 2118): là toàn bộ các loại TSCĐ khác chưa liệt kê vào 5 loại trên như tác phẩm nghệ thuật, tranh thảm… Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ trong DN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý sử dụng TSCĐ và tính toán khấu hao TSCĐ chính xác. Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng: Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ người ta chia TSCĐ của doanh nghiệp thành các loại: - TSCĐ đang sử dụng: đó là những TSCĐ của DN đang sử dụng cho các hoạy động SXKD hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp an ninh, quốc phòng của DN. - TSCĐ chưa cần dùng: là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động SXKD hay các hoạt động khác của DN, song hiện tại chưa cần dùng, đang được dự trữ để sử dụng sau này.
- TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý: là những TSCĐ không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ SXKD của DN, cần được thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu. Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ của DN như thế nào, từ đó, có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng chúng. Phân loại tài sản cố định căn cứ vào quyền sở hữu được chia thành 3 loại: - TSCĐ tự có: là những TSCĐ được mua sắm, đầu tư bằng nguồn vốn tự có( ngân sách cấp, coi như ngân sách cấp và trích quỹ đầu tư phát triển của DN) để phục vụ cho mục đích SXKD của DN. - TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ DN thuê của công ty cho thuê tài chính.