Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong Doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng về công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Công ty Cổ phần Khảo sát và Xây dựng – USCO – Trung tâm Thí nghiệm và Kiểm định xây dựng Hải Phòng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Công ty Cổ phần Khảo sát và Xây dựng – USCO – Trung tâm Thí nghiệm và Kiểm định xây dựng Hải Phòng. Em rất mong nhận được những ý kiến, đóng góp để bài viết của mình được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Hải Phòng, ngày 31 tháng 12 năm 2016 Sinh viên Nguyễn Thị Bích Hậu Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Hậu – QT1807K 1 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Những vấn đề chung về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1 Sự cần thiết của công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp Kế toán doanh thu chi phí và xác định kết quả kinh doanh (XĐKQKD) có vai trò quan trọng giúp DN quản lý chính xác các thu nhập, tổng chi phí từ đó XĐKQKD trong kỳ kế toán. Tổ chức công tác kế toán hợp lý là một trong những cơ sở cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc theo dõi, điều hành sản xuất kinh doanh (SXKD) có hiệu quả. Để công cụ kế toán (KT) phát huy hết vai trò của mình, đòi hỏi các DN phải không ngừng cải tiến và hoàn thiện hơn nữa công tác KT nói chung cũng như KT doanh thu (DT), chi phí và XĐKQKD nói riêng. Vì vậy, việc tổ chức công tác KT DT, chi phí và XĐKQKD một cách khoa học, hợp lý và phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho DN, cơ quan quản lý để DN phát triển bền vững hơn.2 Nhiệm vụ của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Theo dõi thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu ra và tình hình sử dụng hóa đơn, theo dõi các khoản phải thu khách hàng.
Xác định DT, các khoản thu nhập khác (TNK) phát sinh trong kỳ, phản ảnh đúng các khoản giảm trừ doanh thu để xác định doanh thu thuần (DTT). Xác định đúng chính xác đối tượng tính giá thành và hạch toán chính xác giá vốn. Phản ánh vào nội dung chi phí kinh doanh phải đảm bảo đúng nội dung quy định chế độ hiện hành. Tính doanh thu, lợi nhuận và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Lập bảng so sánh tình hình hoạt động, kinh doanh giữa các kỳ của chi nhánh công ty, đưa ra những ưu điểm cần phát huy và nhược điểm khắc phục.3 Một số khái niệm cơ bản về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh 1.1 Doanh thu Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Hậu – QT1807K 2 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng DT là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu. DT bao gồm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (DTBH và CCDV) DTBH và CCDV là toàn bộ số tiền thu được từ việc BH và CCDV của DN bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng BTC thì doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thoả mãn 5 điều kiện: - DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
- DT được xác định tương đối chắc chắn. - DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Thời điểm ghi nhận doanh thu theo các phƣơng thức bán hàng: - Phương thức bán hàng trực tiếp cho khách hàng: Là phương thức giao hàng cho khách hàng trực tiếp tại kho, tại các phân xưởng sản xuất không qua kho.
Sản phẩm đã giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ. - Phương thức gửi hàng cho khách: Là phương thức bên bán gửi hàng đi cho khách theo các điều kiện của hợp đồng kinh tế đã ký kết. Số hàng gửi đi vẫn thuộc quyền kiểm soát của bên bán, khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì lợi ích và rủi ro được chuyển giao toàn bộ cho người mua, giá trị hàng hoá đã được thực hiện và là thời điểm bên bán được ghi nhận doanh thu bán hàng. - Phương thức gửi đại lý, ký gửi: Theo phương thức này, doanh nghiệp xuất kho thành phẩm hàng hoá gửi đi bán cho khách hàng theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.
Khi hàng xuất kho gửi đi bán thì hàng chưa xác định là tiêu thụ. Hàng gửi bán chỉ hạch toán vào doanh thu khi doanh nghiệp đã nhận được tiền bán hàng do khách hàng trả, khách hàng đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán, khách hàng đã ứng trước tiền mua hàng về số hàng gửi đi bán. Chỉ khi nào Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Hậu – QT1807K 3 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng được người mua chấp nhận thanh toán thì số hàng đó mới chính thức coi là tiêu thụ và doanh nghiệp có quyền ghi nhận doanh thu. - Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp: Theo phương thức này, khi bán hàng doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán hàng trả ngay, khách hàng được chậm trả tiền hàng và phải chịu phần lãi chậm trả theo tỷ lệ quy định trong hợp đồng mua bán hàng.
Phần lãi chậm trả được ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trả một lần ngay từ đầu không bao gồm tiền lãi về trả chậm, trả góp. - Phương thức hàng đổi hàng: Theo phương pháp này, doanh nghiệp lấy sản phẩm của mình quy ra giá cả trên thị trường rồi dùng số tiền quy đổi đó để mua sản phẩm của đơn vị khác. Trong trường hợp này, doanh thu được tính theo giá sản phẩm cùng loại mà doanh nghiệp bán thu tiền.
Các khoản giảm trừ doanh thu: Chiết khấu thương mại (CKTM): là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Khoản giảm giá có thể phát sinh trên khối lượng của từng lô hàng mà khách hàng đã mua, cũng có thể phát sinh trên tổng khối lượng hàng luỹ kế mà khách hàng đã mua trong một khoảng thời gian nhất định tuỳ thuộc vào chính sách chiết khấu thương mại của bên bán. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do toàn bộ hoặc một phần hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách. Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do các nguyên nhân như: vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng chủng loại quy cách.
Khi DN ghi nhận giá trị hàng bán bị trả lại đồng thời ghi nhận giảm tương ứng giá vốn hàng bán trong kỳ. Các loại thuế phải nộp Nhà nước: - Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) được coi là một trong các khoản làm giảm doanh thu phát sinh khi doanh nghiệp cung cấp các loại sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất (hoặc các loại dịch vụ) thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. - Thuế xuất nhập khẩu (XNK) được coi là một trong các khoản giảm trừ doanh thu phát sinh khi doanh nghiệp có hàng hoá được phép XK qua cửa khẩu hay biên giới. Doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế XK.
Trong doanh thu của hàng XK đã bao gồm số thuế XK phải nộp vào ngân sách nhà nước. Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Hậu – QT1807K 4 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng - Thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp là tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất tới tiêu dùng. Thuế GTGT phải nộp tương ứng với số DT đã được xác định trong kỳ báo cáo. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ DTT về BH và CCDV là số chênh lệch giữa DTBH và CCDV với các khoản giảm trừ doanh thu.
Và được tính bằng tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ (-) các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp). Doanh thu hoạt động tài chính (DTHĐTC) DTHĐTC bao gồm: lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng hoá dịch vụ, lãi cho thuê tài chính, thu nhập từ cho thuê tài sản, cho người khác sử dụng tài sản, cổ tức… Thu nhập khác TNK là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu.2 Chi phí Chi phí là các khoản chi phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho các hoạt động khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Chi phí bao gồm các khoản sau: Giá vốn hàng bán (GVHB) GVHB là trị giá vốn của hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ.Giá vốn hàng bán có tỷ trọng lớn trong các khoản chi phí của doanh nghiệp.Đối với lao vụ, dịch vụ tiêu thụ giá vốn hàng bán là giá thành sản phẩm hay chi phí sản xuất. Chi phí bán hàng (CPBH) CPBH là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa.