CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Khái niệm và phân loại các đơn vị sự nghiệp có thu Khái niệm: Theo chế độ kế toán Việt Nam thì đơn vị HCSN là đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn. Đơn vị HCSN là một từ ghép để phản ánh hai loại tổ chức khác biệt nhau: đơn vị quản lý hành chính và ĐVSN.
Phân loại * Theo quyền tự chủ, ĐVSN được phân thành 4 loại: ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư: các đơn vị này được giao quyền tự chủ khá rộng như được quyết định số lượng người làm việc, được vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định, được tự quyết định mức trích quỹ bổ sung thu nhập mà không bị không chế mức trích Quỹ bổ sung thu nhập như các loại hình ĐVSN khác (đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên bị khống chế không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do nhà nước quy định; đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên bị khống chế không quá 2 lần, đơn vị do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên bị khống chế không quá 1 lần) 7 Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên: là các đơn vị có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được tính lớn hơn hoặc bằng 100% Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên: là các đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp, có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được tính từ 10% đến dưới 100%. ĐVSN được Nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động: là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước bảo đảm toàn bộ; là các đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên dưới 10%. * Theo góc độ phân cấp tài chính, có thể chia các đơn vị tài chính trong cùng một ngành theo hệ thống dọc thành các đơn vị dự toán: Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán từ ngân sách năm và phân bổ dự toán cho đơn vị dự toán cấp dưới, chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc. Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị có trách nhiệm quản lý kinh phí của toàn ngành và giải quyết các vấn đề có liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính.
Thuộc đơn vị dự toán cấp I là các Bộ ở Trung ương, các Sở ở các tỉnh, thành phố hoặc các phòng ở cấp quận huyện. Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán của đơn vị dự toán cấp dưới. Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I và là đơn vị trung gian thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phí nối liền giữa đơn vị dự toán cấp I với các đơn vị dự 8 toán cấp III. Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn Ngân sách, nhận dự toán Ngân sách của đơn vị cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II) có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có).
Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị dự toán cấp cơ sở trực tiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ nhu cầu hoạt động của mình đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phí tại đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp trên. Đơn vị dự toán cấp dưới của Cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I. Tùy theo nguồn thu trong quá trình hoạt động mà bên cạnh các ĐVSN thuần túy (ĐVSN không có nguồn thu) còn có các đơn vị SNCT. Đơn vị SNCT là những ĐVSN mà ngoài nguồn kinh phí được NSNN cấp còn được Nhà nước cho phép thu một số khoản thu phí lệ phí hoặc một số khoản thu khác để phục vụ cho quá trình hoạt động của mình.
Đặc điểm: Các đơn vị SNCT hoạt động trong nhiều ngành, lĩnh vực và với nhiều tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động khác nhau. Nhưng dù đơn vị đó có thuộc ngành nào, loại hình ĐVSN nào thì chúng đều có chung một số đặc điểm: Thứ nhất, đơn vị SNCT là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội là chính chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. Thứ hai, sản phẩm của đơn vị SNCT là sản phẩm mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất. Thứ ba, hoạt động của đơn vị SNCT luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
9 Thứ tư, các đơn vị SNCT có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động sự nghiệp. Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu a. Đặc điểm quản lý thu 1. Nguồn tài chính của đơn vị SNCT Căn cứ vào Nghị định 16/2015/NĐ-CP, các ĐVSN hiện đã và đang cố gắng chủ động tích cực khai thác các nguồn thu sự nghiệp, sử dụng nguồn kinh phí được ngân sách cấp bảo đảm hoạt động thường xuyên và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị theo yêu cầu hoạt động của đơn vị đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả.
* Theo nguồn tài chính được thụ hưởng: nguồn tài chính của đơn vị SNCT tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí) bao gồm: - Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công; - Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định; - Nguồn NSNN hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công; - Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); - NSNN cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm 10 quyền giao; - Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. * Theo quyền tự chủ của đơn vị: nguồn tài chính của ĐVSN được chia thành 2 loại: kinh phí tự chủ và kinh phí không tự chủ. - Kinh phí tự chủ: Là nguồn kinh phí NSNN cấp thường xuyên cho các đơn vị SNCT để duy trì hoạt động thường xuyên của đơn vị như dùng để trả lương và các khoản có tính chất lương, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi mua sắm sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản chi khác. Đơn vị SNCT được cấp trên giao kinh phí tự chủ vào nhóm mục 4 “chi khác”.
Vì là kinh phí giao tự chủ cho các đơn vị SNCT nên trong quá trình sử dụng nguồn kinh phí này, các đơn vị được điều chỉnh nhóm chi cho phù hợp với nhu cầu thực tế tại đơn vị. Cuối năm, nguồn kinh phí tự chủ chưa sử dụng hết được phép chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng. - Kinh phí không tự chủ: Là nguồn kinh phí NSNN cấp mà đơn vị SNCT phải sử dụng đúng nhóm mục chi và đúng nội dung chi như trong dự toán được cấp trên giao. Nguồn kinh phí không tự chủ cuối năm chưa sử dụng hoặc sử dụng không hết sẽ thực hiện theo Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Trường hợp kinh phí không tự chủ là nguồn kinh phí để thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, cuối năm ĐVSN sử dụng không hết thì dự toán còn lại ở Kho bạc sẽ bị huỷ, không được chuyển sang năm sau sử dụng. Phương thức cấp phát kinh phí Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động, việc cấp phát Ngân sách của nước ta đang tồn tại các phương thức sau: - Phương thức “Ghi thu, ghi chi”: Là phương thức thu, chi tại chỗ, tại thời điểm nghiệp vụ này giao cho đơn vị thực hiện, sau đó quyết toán với NSNN bằng hình thức ghi thu, ghi chi. Ưu điểm của phương thức này là bảo 11 đảm tính kịp thời, nâng cao trách nhiệm của đơn vị. Tuy nhiên với phương thức này Nhà nước khó kiểm tra nguồn thu và nội dung chi một cách chính xác.
- Phương thức “Gán thu, bù chi”: Phương thức này được áp dụng ở các đơn vị SNCT. Ưu điểm của phương thức này là nâng cao trách nhiệm tự hạch toán thu chi của đơn vị, giảm bớt gánh nặng cho NSNN. Tuy nhiên phương thức này do đơn vị quá quan tâm đến nguồn thu nên có thể tạo ra các hoạt động phi pháp.