Chương 1: Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin của công ty chứng khoán niêm yết. Chương 2: Thực trạng công bố thông tin của công ty cổ phần chứng khoán Rồng Việt. Chương 3: Khảo sát mức độ hài lòng của nhà đầu tƣ về việc công bố thông tin của công ty cổ phần chứng khoán Rồng Việt. Chương 4: Những đề xuất nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin của công ty cổ phần chứng khoán Rồng Việt 7.
Tổng quan tài liệu Thế giới đã quan tâm đến vấn đề công bố thông tin từ nhiều thập niên trƣớc theo hai hƣớng: Luan van 4 Hướng thứ nhất nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin. Cụ thể, Mitchell (Mitchell, Jason D, Chia. Chris WL & Loh, Andrew S năm 1995 , p1-16) đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết qua thăm dò ở Úc và các ngành công nghiệp dầu. Chow và Wong Boren (1987), Ashbaughe et al.
(1999) cho rằng quy mô doanh nghiệp và hình thức sở hữu có ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin doanh nghiệp. Hay các nghiên cứu Brennan và Hourigan (1998), Debreceny et al. (2002), Oyeler et al (2003), Hussainey và Al. Nodel (2008) cho rằng loại hình kinh doanh khác nhau sẽ có mức độ công bố thông tin khác nhau; Marston và Polei (2004), Oyeler et al (2003), Pirchegger và Wagenhofer (2004) lại cho rằng các công ty có khả năng sinh lời cao sẽ có xu hƣớng công bố rộng rãi thông tin của mình; còn Ettredge et al.
(2002), Ismail (2002), Breman và Hourigan (2004), Debreceny et al.(2004) đƣa ra tỷ suất nợ và khả năng tăng vốn chủ có ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin. Điển hình Gray, Meek (Meek, G. K, Roberts, CB & Gray, SJ, 1995 p555- 572) đã nghiên cứu thực nghiệm ở 116 doanh nghiệp ở Mỹ, 64 doanh nghiệp ở Anh và 46 lục địa châu Âu các tập đoàn đa quốc gia để thực nghiệm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo hàng năm. Hướng thứ hai nghiên cứu việc công bố thông tin kế toán, thông tin tự nguyện ảnh hƣởng đến việc ra quyết định của nhà đầu tƣ.
Bao gồm các nghiên cứu nhƣ, Laohapolwatana et al., (2005); Adina & Ion, (2008) đƣa ra các thông tin có tính minh bạch (transparent) và dễ hiểu (understandable) phục vụ ngƣời sử dụng; hay thông tin kế toán – những thông tin đƣợc trình bày trong các báo cáo tài chính của công ty – đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho ngƣời sử dụng thông tin ra quyết định trong nghiên cứu của Healy & Palepu, (2001); Adina & Ion, (2008); còn Luan van 5 Gao, (2007); Kanodia, (2007); Beyer & Guttman, (2010) cho rằng các công bố kế toán – các thông tin do công ty công bố với công chúng thông qua các báo cáo tài chính của họ có “ảnh hƣởng thật sự” đến quá trình ra quyết định của ngƣời sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tƣ. Và Adina và Ion (2008) đã kết luận rằng công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hƣởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tƣợng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp. Đối với Việt Nam, những năm gần đây khi mà thị trƣờng chứng khoán ngày càng phát triển, các nghiên cứu về vấn đề công bố thông tin cũng dần trở nên phổ biến. Cụ thể: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin bao gồm: PGS.
TS Hoàng Tùng đƣa ra bài báo mà nội dung bài viết bàn thảo các khía cạnh liên quan đến việc công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoán của các Công ty niêm yết, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và nội dung các thông tin cần công bố; Tác giả Đoàn Nguyễn Trang Phƣơng đã có nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam1(2010, p210 -216); nghiên cứu của tác giả Lê Thị Trúc Loan (2012, P 119- 126) kết quả nhân tố tỷ suất lợi nhuận đƣợc đo bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng vốn chủ sở hữu tại thời điểm 31/12/2010 có ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam; nghiên cứu của tác giả giả Lê Trƣờng Vinh, Hoàng Trọng “Các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tƣ”. Kết quả của nghiên cứu đã cho rằng nhân tố Q có ảnh hƣởng đến sự minh bạch trong công bố thông tin; gần đây nhất tác giả Phạm Thị Thu 1 Kỷ yếu hội thảo “35 năm phát triển và hội nhập trƣờng Đại học kinh tế , Đại học Đà Nẵng”trang 210 -216 Luan van 6 Đông đã bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2013). Nghiên cứu về thực trạng công bố thông tin tại các doanh nghiệp niêm yết hiện nay, gồm: Đặng Thị Thúy Hằng (2011) nghiên cứu về “Thực trạng và giải pháp cho vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam”; tác giả Hà Xuân Thạch và Lê Ngọc Hiệp “Nâng cao chất lƣợng báo cáo tài chính của công ty niêm yết”. Kế thừa đóng góp từ những nghiên cứu trƣớc, tác giả tiếp tục khai thác đề tài công bố thông tin nhƣng tập trung nghiên cứu việc công bố thông tin tại một công ty chứng khoán niêm yết cụ thể và đo lƣờng mức độ hài lòng của nhà đầu tƣ đối với việc công bố thông tin của công ty đó.
Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT 1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT 1. Khái niệm công ty chứng khoán Nguyên tắc trung gian là một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của thị trƣờng chứng khoán. Theo nguyên tắc này, mọi hoạt động diễn ra trên thị trƣờng chứng khoán tập trung đều phải thông qua tổ chức trung gian, đó là công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tƣ cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập. Tại Việt Nam, theo quy chế về tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán ở quyết định 27/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 24/4/2007 công ty chứng khoán đƣợc định nghĩa là tổ chức có tƣ cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán. Điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Điều kiện niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đƣợc quy định chi tiết tại Nhị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007. Cụ thể: - Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; - Hoạt động kinh doanh của năm liền trƣớc năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm, hoàn thành các Luan van 8 nghĩa vụ tài chính với Nhà nƣớc và có tình hình tài chính lành mạnh tính đến thời điểm đăng ký niêm yết; - Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ; - Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trƣởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nƣớc do các cá nhân trên đại diện nắm giữ.
LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1. Công bố thông tin Nghiên cứu “Bàn về mối quan hệ giữa một số nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của tác giả Lê Thị Trúc Loan, (2012) đã giới thiệu các lý thuyết công bố thông tin; bao gồm các lý thuyết kinh tế (có lý thuyết đại diện (agency theory) và lý thuyết tín hiệu (signaling theory)), lý thuyết về sự thay đổi thể chế (Institutional change theory) và lý thuyết về truyền đạt phƣơng pháp mới (innovation diffusion theory). - Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng ngƣời đại diện công ty (giám đốc) có xu hƣớng thúc đẩy việc công bố thông tin nhằm thuyết phục các cổ đông rằng họ đang điều hành công ty ở mức tối ƣu bởi vì họ cho rằng các cổ đông công ty thƣờng kiểm soát họ thông qua công việc quản lý công ty của họ. Vì vậy, gia tăng mức độ công bố thông tin đƣợc xem là một trong những giải pháp giảm chi phí giám đốc và là một trong những công cụ nhằm giảm bớt mâu thuẫn về lợi ích giữa giám đốc và các cổ đông.
Luan van 9 - Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng công bố thông tin là một trong những công cụ mà một số doanh nghiệp sử dụng để tạo ra sự khác biệt về chất lƣợng hoạt động của chính các doanh nghiệp này so với các doanh nghiệp khác. Theo Ross (1997), lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động tốt thƣờng sử dụng thông tin tài chính nhƣ là công cụ để truyền tín hiệu đến thị trƣờng. Chẳng hạn nhƣ tỷ suất nợ đƣợc xem nhƣ là tín hiệu để phân biệt công ty hoạt động tốt và công ty hoạt động kém. Ngoài ra, giám đốc công ty có lợi nhuận cao thƣờng có xu hƣớng gia tăng mức độ công bố thông tin để truyền tín hiệu đến các cổ đông rằng công ty hoạt động có lợi nhuận nhằm củng cố vị trí và thu nhập của họ (Oyeler et al.
- Lý thuyết về truyền đạt phương pháp mới làm rõ nguyên nhân của việc áp dụng và phát triển phƣơng pháp mới. Phƣơng pháp mới chính là việc công bố thông tin doanh nghiệp trên Internet.