Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG 1. Chuỗi cung ứng 1. Định nghĩa chuỗi cung ứng Chopra và Peter (2003) cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm các công đoạn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng; nói cách khác, chuỗi cung ứng là sự liên kết các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm của Nguyễn Kim Anh (2006) chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn liên quan đến nhà kho, nhà vận chuyển, nhà bán lẻ và khách hàng.
“Chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng” (Hồ Tiến Dũng, 2009, trang 381). Theo quan điểm của Lambert và cộng sự thì chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường. Như vậy có thể nói rằng, chuỗi cung ứng là mối liên kết thành dòng chảy của các bên liên quan, để nguyên vật liệu được chuyển thành sản phẩm và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng. Muốn quá trình này diễn ra trôi chảy, cần phải xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng.
Định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng Để các hoạt động trong chuỗi cung ứng diễn ra nhịp nhàng, hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết ở bất kỳ công đoạn nào trong chuỗi cung ứng. “Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông tin và nguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai” (Hồ Tiến Dũng, 2009, trang 382). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Monczka và cộng sự (2009) cho rằng quản trị chuỗi cung ứng là hoạt động định hướng, quản lý hai chiều và phối hợp của sản phẩm, dịch vụ, thông tin, tài chính thành dòng chảy từ nguyên vật liệu đến người sử dụng cuối cùng. Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các công cụ từ lập kế hoạch và điều khiển các bước trong mạng lưới từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển hóa thành sản phẩm và vận chuyển sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng (Joe và cộng sự, 2009).
Như vậy có thể hiểu khái quát quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp các hoạt động sản xuất, địa điểm, vận tải và lưu kho giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà mình phục vụ một sự kết hợp tiện ích và hiệu quả tốt nhất. Do đó, để việc quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả, các doanh nghiệp phải cùng làm việc với nhau, chia sẻ thông tin như: dự báo nhu cầu; kế hoạch mua hàng; kế hoạch sản xuất, giao hàng; việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới; những thay đổi năng lực, chiến lược marketing mới; công nghệ mới và tất cả những thông tin khách hàng ảnh hưởng đến các hoạt động trong chuỗi cung ứng. Mô hình chuỗi cung ứng Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản: Ở hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm một công ty, nhà cung cấp và các khách hàng của công ty đó (Nguyễn Kim Anh, 2006). Đây là một nhóm các bộ phận cơ bản của một chuỗi cung ứng đơn giản.
Những công ty có quy mô nhỏ sẽ có mô hình quản lý chuỗi cung ứng này. Nhà cung cấp Công ty Khách hàng Nguồn: Nguyễn Kim Anh, 2006 Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng: Ngoài những thành phần trên, chuỗi cung ứng mở rộng sẽ có thêm nhà cung cấp của nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, công ty cung cấp dịch vụ cho chuỗi cung ứng như: tiếp thị, logistics, tài chính, và công nghệ thông tin (Nguyễn Kim Anh, 2006). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Nguồn: Nguyễn Kim Anh, 2006 Hình 1.2: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng Mô hình chuỗi cung ứng điển hình: Trong mô hình chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một hoặc nhiều nhà máy, sau đó được chuyển đến công ty sản xuất. Sản phẩm được phân phối đến nhà bán sỉ, qua nhà bán lẻ đến tay người tiêu dùng.
Các mối quan hệ này được liên kết với nhau thành một mạng lưới. Dòng sản phẩm, dịch vụ và thông tin lưu chuyển liên tục trong cả chuỗi. Nguồn: Nguyễn Kim Anh, 2006 Hình 1.3: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hoạt động chuỗi cung ứng Mô hình SCOR (Supply Chain Operations Research) của Hội đồng chuỗi cung ứng: 1.
Lập kế hoạch 2. Cung ứng nguyên vật liệu - Dự báo nhu cầu - Thu mua - Định giá sản phẩm - Tín dụng và thu nợ - Quản lý lưu kho 4. Sản xuất - Quản lý đơn hàng - Thiết kế sản phẩm - Lập lịch biểu giao hàng - Lập quy trình sản xuất - Quản lý nhà máy (Nguồn: Mô hình nghiên cứu hoạt động chuỗi cung ứng - SCOR, Supply chain council Inc) Hình 1.4: Các hoạt động của chuỗi cung ứng Theo mô hình SCOR (Supply Chain Operations Research) của Hội đồng chuỗi cung ứng có 4 hoạt động động chính của chuỗi cung ứng: Lập kế hoạch, cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, phân phối. Các nghiên cứu về hoạt động chuỗi cung ứng trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu những hoạt động cụ thể của chuỗi cung ứng: Lập kế hoạch, cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, phân phối và dịch vụ khách hàng.
Trong luận văn này với mục tiêu nghiên cứu hoạt động chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nên tác giả tập trung vào 5 hoạt động chính như sau: 1. Lập kế hoạch Lập kế hoạch bao gồm: Dự báo nhu cầu, định giá sản phẩm, quản lý tồn kho: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Dự báo nhu cầu: Các quyết định trong chuỗi cung ứng đều liên quan đến công tác dự báo nhằm xác định nhu cầu của khách hàng về chủng loại, số lượng, thời điểm cần giao hàng. Công đoạn dự báo nhu cầu trở thành yếu tố căn bản nhất cho công ty lập ra kế hoạch sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Có bốn biến số chính để thực hiện dự báo: + Nguồn cung: Lượng sản phẩm có sẵn.
+ Lượng cầu: Toàn bộ nhu cầu thị trường về sản phẩm. + Đặc điểm sản phẩm: Những đặc điểm sản phẩm tác động đến nhu cầu. + Môi trường cạnh tranh: Hành động của những nhà cung cấp sản phẩm trên thị trường. Định giá sản phẩm: Thông qua công cụ giá cả, doanh nghiệp có thể tác động đến nhu cầu với mục tiêu là tối đa hóa doanh thu hoặc lợi nhuận trước thuế.
Thông thường, doanh nghiệp thường đưa ra quyết định liên quan đến giá nhằm kích cầu tiêu thụ vào mùa cao điểm cũng như vào giai đoạn ế ẩm. Mục đích là bù đắp chi phí trong thời kỳ nhu cầu tiêu thụ chậm. Quản lý tồn kho: Quản lý tồn kho tập hợp những kỹ thuật nhằm quản lý mức độ hàng hóa lưu kho trong phạm vi khác nhau của chuỗi cung ứng. Mục tiêu nhằm giảm tối đa chi phí lưu kho trong khi vẫn duy trì mức độ dịch vụ theo yêu cầu khách hàng.
Hoạt động quản lý tồn kho của doanh nghiệp là sự kết hợp những hoạt động có liên quan đến việc quản lý ba hình thức lưu kho hàng hóa: + Lưu kho hàng hóa theo mùa; + Lưu kho hàng hóa chú trọng độ an toàn; + Lưu kho hàng hóa theo chu kỳ. Cung ứng nguyên vật liệu Thu mua: Nhiệm vụ của thu mua là tìm kiếm những nhà cung ứng tiềm năng, so sánh giá cả rồi sau đó mua sản phẩm từ nhà cung ứng có chi phí thấp nhất. Chức năng thu mua bao gồm 5 công đoạn: + Mua hàng: Những hoạt động hàng ngày liên quan đến việc phát hành những đơn hàng cần mua để cung cấp cho bộ phận sản xuất sản phẩm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 + Quản lý việc tiêu thụ: Hiểu được toàn công ty hay từng bộ phận sẽ mua những loại sản phẩm nào, với số lượng bao nhiêu.
Đồng thời tìm hiểu số danh mục sản phẩm được mua, với giá cả bao nhiêu, từ nhà cung cấp nào. + Lựa chọn nhà cung cấp: Là những hoạt động nhằm xác định những khả năng cung ứng của nhà cung cấp: thời gian giao hàng đúng hạn, mức phục vụ và hoạt động hỗ trợ kỹ thuật… + Thương lượng hợp đồng: Hợp đồng phải được thương lượng với từng người bán nhằm giải quyết các điều khoản như: mặt hàng, giá cả, chất lượng… Mục tiêu thương lượng phải cụ thể và có những điều khoản ràng buộc về chi phí nếu như mục tiêu không đáp ứng nhu cầu. Tín dụng và thu nợ: Là quy trình cung ứng mà công ty dùng để thu hồi các khoản tiền. Sản xuất Hoạt động sản xuất gồm 3 hoạt động chính: Thiết kế sản phẩm: Là việc thiết kế và lựa chọn các yếu tố cần thiết để sản xuất ra sản phẩm dựa trên tính năng yêu cầu và công nghệ sẵn có với mục tiêu nhằm thiết kế những sản phẩm đơn giản, có ít bộ phận cấu thành hơn và có tính chất dây chuyền hóa từ tổ hợp nhiều đơn vị cấu thành riêng rẻ.
Một bản thiết kế sản phẩm được xem là tốt khi có sự kết hợp hài hòa của 03 khía cạnh: thiết kế, sản xuất và cung ứng. Lập quy trình sản xuất: Là việc phân bổ công suất và nguồn lực có sẵn (thiết bị, lao động, nhà máy) cho việc sản xuất sản phẩm cần thiết. Mục tiêu là sử dụng công suất sẵn có một cách hiệu quả và mang lại lợi nhuận cao nhất. Công đoạn lập lịch trình sản xuất là một quá trình tìm sự cân bằng giữa nhiều mục tiêu khác nhau: tần suất hoạt động cao, mức lưu kho thấp, mức phục vụ khách hàng cao.
Quản lý nhà máy sản xuất: Tất cả các quyết định quản trị nhà máy sản xuất diễn ra trong phạm vi của mối liên kết được hình thành bởi các quyết định về khu vực sản xuất. Hoạt động này liên quan đến việc ra 03 quyết định sau: phân bổ nguồn lực thế nào cho mỗi nhà máy sản xuất, vai trò của mỗi nhà máy sản xuất, phân bổ nhà cung cấp, và thị trường cho từng nhà máy sản xuất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.