Tổng quan nghiên cứu

Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chiến lược của Việt Nam với sản lượng bình quân hàng năm đạt từ 1,1 đến 1,2 triệu tấn, giữ vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu sau Brazil. Tuy nhiên, hơn 90% khối lượng xuất khẩu của cả nước vẫn ở dạng hạt thô chưa qua chế biến sâu, khiến giá trị xuất khẩu chỉ đạt khoảng 2.000 USD/tấn. Tại Công ty Thực phẩm Miền Bắc (Fonexim) – một doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo Quyết định số 699/TM-TCCB ngày 13/8/1996 của Bộ Thương Mại, sở hữu quy mô hơn 3.250 cán bộ công nhân viên và vốn chủ sở hữu đạt 82,2 tỷ đồng tính đến ngày 31/12/2009 – công tác thu mua và chế biến cà phê đóng vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là hoạt động thu mua của Fonexim đang chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phạm vi nguồn hàng còn hạn chế và phương thức sơ chế còn giản đơn. Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu đánh giá thực trạng quy trình xây dựng, triển khai các chính sách sản phẩm, giá cả, nguồn cung ứng và chế biến của công ty; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa chi phí đầu vào và nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi kinh doanh cà phê.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chuỗi thu mua cà phê Robusta xuất khẩu của Fonexim tại các địa bàn trọng điểm vùng Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng) và cơ sở chế biến, kho bãi tại Bình Dương trong giai đoạn 2009 – 2011, định hướng hoàn thiện đến năm 2015. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp doanh nghiệp nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn, tối ưu hóa định mức hao hụt và hỗ trợ các nhà hoạch định chiến lược kinh doanh nông sản trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chính sách kinh doanh tổng quát theo quan điểm của Frank Ellis, xem chính sách là sự kết hợp chặt chẽ giữa đường lối, mục tiêu và phương pháp mà một tổ chức lựa chọn để định hướng hành vi và tạo ra tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường doanh nghiệp thương mại, chính sách thu mua được cụ thể hóa thành hệ thống định hướng về danh mục sản phẩm, mức giá chấp nhận, tiêu chuẩn chất lượng tối ưu và phương thức khai thác nhà cung cấp nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường với chi phí tối thiểu.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng và công thức cân đối lưu chuyển hàng hóa dự trữ: M = B + D2 + H - D1 (trong đó M là lượng hàng cần mua trong kỳ, B là lượng hàng xuất bán theo kế hoạch, D1 là mức tồn kho đầu kỳ, D2 là dự trữ cuối kỳ và H là hao hụt tự nhiên cho phép trong khoảng 0,5% đến 1,0%). Bốn khái niệm nền tảng được làm rõ bao gồm: Quản trị thu mua thương mại, Chính sách chất lượng tối ưu (hướng tới sự phù hợp tuyệt đối với nhu cầu khách hàng mục tiêu thay vì chất lượng tối đa gây lãng phí chi phí), Cơ chế định giá cạnh tranh và Quản trị quan hệ nhà cung cấp (SRM) nhằm thiết lập mạng lưới cung ứng đa tầng, giảm thiểu nguy cơ độc quyền bán.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009 – 2011 của Phòng Kế toán - Tài chính, Phòng Kế hoạch và Phòng Xuất nhập khẩu Fonexim. Đáng chú ý, số liệu ghi nhận doanh thu thuần năm 2009 của công ty đạt 21.137.855 nghìn đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 448.295 nghìn đồng.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên sâu với cỡ mẫu gồm 25 cán bộ quản lý và chuyên viên nghiệp vụ, bao gồm Ban Giám đốc, lãnh đạo 5 phòng ban chức năng và 18 chuyên viên phụ trách thu mua, xuất nhập khẩu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu định ngạch phi ngẫu nhiên (purposive sampling), lựa chọn những nhân sự có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên nhằm đảm bảo tính am hiểu sâu sắc về chuỗi cung ứng. Ngoài ra, phương pháp quan sát trực tiếp được thực hiện tại nhà máy sơ chế ở Đắk Lắk và hệ thống kho hàng tại thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Dữ liệu sau khi chọn lọc được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phân tích tỷ trọng cơ cấu. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là để định lượng chính xác sự biến động của giá thành thu mua dưới tác động của mặt bằng lãi suất vay từ 12% đến 18%/năm, bóc tách cơ cấu chi phí vận hành và đánh giá trực quan hiệu quả thực thi chính sách mua hàng theo từng niên vụ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu có sự dịch chuyển rõ rệt về tỷ trọng chất lượng cao: Tỷ trọng thu mua và xuất khẩu mặt hàng cà phê Robusta loại 1 (R1) của Fonexim tăng trưởng liên tục từ 49,0% trong năm 2009 lên 50,33% tổng sản lượng năm 2011, trong khi tỷ trọng dòng Robusta loại 2 (R2) giảm tương ứng từ 51,0% xuống 49,67%. Sự thay đổi này phản ánh sự điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu cao cấp từ các thị trường trọng điểm như Đức, Ý, Bỉ và Mỹ.

Thứ hai, áp lực cạnh tranh nguồn nguyên liệu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra vô cùng gay gắt: Nhờ ưu thế tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ với lãi suất chỉ khoảng 6%/năm, các công ty nước ngoài đã đẩy giá thu mua cà phê tại vùng Tây Nguyên lên mức 48.000 đến 50.000 đồng/kg. Trong khi đó, Fonexim chịu áp lực lãi suất vay ngân hàng thương mại nội địa từ 12% đến 18%/năm, chỉ có thể duy trì mức giá mua từ 37.000 đến 46.000 đồng/kg, dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn cung cục bộ và mất thị phần thu mua tại các địa bàn trọng điểm.

Thứ ba, hiệu quả tiếp cận chính sách vĩ mô chưa đạt kỳ vọng do độ trễ thời gian: Trong niên vụ 2009 – 2010, Fonexim được Chính phủ phân bổ hạn ngạch thu mua tạm trữ tối đa 10.000 tấn trong tổng quy mô 200.000 tấn toàn quốc được hỗ trợ lãi suất 6%. Tuy nhiên, chính sách công bố từ đầu năm nhưng đến tháng 6/2010 các ngân hàng mới hoàn tất thủ tục giải ngân. Tại thời điểm này, nguồn cà phê trong dân đã khan hiếm, khiến công ty không thể hoàn thành tối đa hạn ngạch 10.000 tấn được giao.

Thứ tư, chất lượng kỹ thuật cơ bản được kiểm soát chặt chẽ nhưng thiếu công nghệ chế biến sâu: Toàn bộ lô hàng Robusta 1 thu mua đều tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn hạt đen vỡ không quá 3%, độ ẩm tối đa 12,5%, tạp chất dưới 0,5% và cỡ hạt trên sàng 16 đạt trên 90%. Tuy nhiên, do chỉ dừng lại ở khâu sơ chế, phân loại và sàng lọc rác bẩn tại nhà máy Đắk Lắk, công ty chưa tạo ra các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao như cà phê rang xay hay hòa tan.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nêu trên phản ánh những bất cập nội tại trong mô hình chuỗi cung ứng của Fonexim. Sự chênh lệch chi phí vốn từ 6% đến 12% giữa doanh nghiệp trong nước và khối FDI là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm khả năng thương lượng giá của doanh nghiệp nhà nước trước người nông dân và các đại lý cấp cơ sở.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương thích với nhận định của Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại nông, lâm, thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ông Đỗ Văn Nam: "Ngay khâu thu hoạch của cà phê, nếu áp dụng theo quy trình UTZ và có giấy chứng nhận, giá trị sẽ tăng lên 20 - 30 USD/tấn. Riêng khâu chế biến, nếu xuất thô, cà phê chỉ được 2.000 USD/tấn, nhưng nếu chế biến ra cà phê hòa tan, giá có thể lên tới 6.000 USD/tấn." Rõ ràng, việc duy trì xuất khẩu thô đang tước đi cơ hội thu về thêm 4.000 USD trên mỗi tấn cà phê thành phẩm của doanh nghiệp.

Để tăng tính trực quan cho các thảo luận học thuật, dữ liệu biến động tỷ trọng Robusta 1 và Robusta 2 qua các năm có thể được thể hiện qua biểu đồ cột chồng tỷ lệ kết hợp bảng ma trận so sánh các tiêu chí kỹ thuật (hạt vỡ, độ ẩm, tạp chất, sàng 16). Đồng thời, sự tương quan giữa biến động lãi suất vay ngân hàng và giá thu mua của doanh nghiệp so với khối FDI nên được mô tả thông qua biểu đồ đường phân kỳ hai trục, làm nổi bật khoảng cách chênh lệch giá từ 2.000 đến 4.000 đồng/kg giữa hai khối doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tái cấu trúc chính sách tài chính và tối ưu hóa thời điểm giải ngân vốn: Ban Giám đốc phối hợp cùng Phòng Kế toán - Tài chính chủ động đàm phán với các ngân hàng thương mại nhà nước để ký kết các gói tín dụng xuất khẩu ưu đãi với mức lãi suất trần dưới 10%/năm trước tháng 10 hàng năm; thiết lập quỹ tạm ứng thu mua 30% đến 40% giá trị hợp đồng bao tiêu cho các hộ nông dân tại Đắk Lắk trong giai đoạn 2012 – 2015 nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định ngay đầu niên vụ.

  2. Nâng cấp hạ tầng công nghệ và đẩy mạnh chế biến sâu: Ban Quản lý Dự án Đầu tư triển khai lắp đặt 1 dây chuyền sơ chế đánh bóng ướt (Wet Polished) tại nhà máy chế biến Đắk Lắk với công suất thiết kế 5.000 tấn/năm trong giai đoạn 2013 – 2014; từng bước nâng tỷ lệ sản phẩm cà phê đạt các chứng chỉ bền vững (4C, UTZ, Rainforest) từ mức khoảng 12% lên đạt 30% vào năm 2015, nhằm gia tăng giá trị thặng dư bán ra thêm 20 đến 30 USD/tấn.

  3. Mở rộng mạng lưới đại lý thu mua trực tiếp tại vùng nguyên liệu: Phòng Xuất nhập khẩu và Chi nhánh phụ trách vùng thiết lập mới từ 3 đến 5 trạm thu mua trực thuộc tại các huyện trọng điểm ở Gia Lai và Lâm Đồng trước quý 2/2014; cắt giảm 100% các tầng nấc trung gian không cần thiết, giúp tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí vận chuyển và hoa hồng thương lái.

  4. Ứng dụng nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro giá cả trên thị trường kỳ hạn: Phòng Kinh doanh và Phòng Xuất nhập khẩu triển khai áp dụng các hợp đồng tương lai (Futures) và hợp đồng quyền chọn (Options) trên sàn giao dịch London ICE cho tối thiểu 50% sản lượng xuất khẩu từ quý 3/2013; đồng thời tổ chức đào tạo nâng cao năng lực phân tích tài chính thị trường cho 100% cán bộ nghiệp vụ xuất nhập khẩu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban lãnh đạo và nhà quản trị tại các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản: Cung cấp phương pháp xây dựng mô hình thu mua chủ động, quản trị định mức tồn kho an toàn và giải pháp kiểm soát chi phí đầu vào khi giá thu mua biến động đột biến từ 20.000 đồng lên 37.000 đồng/kg.

  2. Chuyên viên quản trị chuỗi cung ứng và thu mua thương mại: Ứng dụng quy trình đánh giá, lựa chọn nhà cung ứng đa tiêu chí (uy tín giao hàng, hạn mức tín dụng, năng lực tài chính) và quy chuẩn kiểm định chất lượng (độ ẩm 12,5%, tỷ lệ tạp chất dưới 0,5%) vào hoạt động tác nghiệp tại các kho vận nông nghiệp.

  3. Cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam: Nắm bắt bức tranh thực tế về các vướng mắc trong khâu giải ngân gói hỗ trợ lãi suất 6% mua tạm trữ 200.000 tấn, từ đó kịp thời hoàn thiện chính sách điều hành tín dụng và chính sách hỗ trợ thu mua nông sản theo mùa vụ.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực chứng giàu số liệu về chính sách thu mua nguyên liệu, quản trị chuỗi giá trị nông sản và phân tích tài chính doanh nghiệp thương mại nhà nước giai đoạn 2009 – 2011.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Fonexim ưu tiên thu mua dòng Robusta mà chưa mở rộng thu mua Arabica? Theo phân tích thị trường, hơn 90% diện tích trồng cà phê tại Việt Nam là Robusta tập trung ở Tây Nguyên, rất thuận lợi cho nhà máy tại Đắk Lắk. Ngược lại, Arabica chỉ chiếm khoảng 10% diện tích, tập trung ở miền Bắc, sản lượng thấp, giá thành cao và khó bảo quản, chưa phù hợp với thị trường xuất khẩu chính của Fonexim.

Đâu là nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp nội địa lép vế trước khối FDI khi thu mua cà phê? Doanh nghiệp FDI tiếp cận nguồn vốn vay ngoại tệ với lãi suất ưu đãi chỉ khoảng 6%/năm, sẵn sàng mua cà phê ở mức 48.000 đến 50.000 đồng/kg. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước phải vay vốn với lãi suất 12% đến 18%/năm, buộc phải định giá thu mua thấp hơn ở mức 37.000 đồng/kg để tránh thua lỗ.

Hạn chế lớn nhất trong chương trình hỗ trợ lãi suất 6% tạm trữ năm 2010 là gì? Mặc dù Fonexim được cấp hạn ngạch thu mua tạm trữ tối đa 10.000 tấn, chính sách ban hành từ đầu năm nhưng đến tháng 6/2010 vốn ngân hàng mới được giải ngân. Thời điểm này nguồn hàng trong dân đã cạn kiệt, khiến doanh nghiệp không thể thu mua đủ sản lượng được hỗ trợ.

Tiêu chuẩn kỹ thuật nào đóng vai trò cốt lõi trong chính sách chất lượng Robusta 1 của công ty? Fonexim quy định tỷ lệ hạt đen và vỡ tối đa không quá 3%, độ ẩm tối đa 12,5%, tạp chất không vượt quá 0,5% và tỷ lệ cỡ hạt trên sàng 16 phải đạt tối thiểu 90%. Đây là bộ chỉ số bắt buộc để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ.

Tại sao chứng chỉ UTZ và chế biến sâu lại mang tính sống còn cho ngành cà phê? Theo báo cáo chuyên ngành, việc đạt chứng chỉ UTZ giúp giá trị cà phê xuất khẩu tăng thêm 20 đến 30 USD/tấn. Đặc biệt, chế biến sâu thành cà phê hòa tan nâng giá trị từ 2.000 USD/tấn cà phê thô lên tới 6.000 USD/tấn, gia tăng biên lợi nhuận gấp 3 lần cho doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách thu mua và chế biến hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại, ứng dụng sát thực vào ngành hàng cà phê xuất khẩu.
  • Phân tích thực chứng làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm của Fonexim với tỷ trọng Robusta 1 đạt 50,33% năm 2011, đồng thời chỉ ra rào cản chi phí vốn vay 12% đến 18%/năm trước sức ép cạnh tranh từ khối FDI.
  • Đánh giá thẳng thắn hạn chế về độ trễ giải ngân gói hỗ trợ lãi suất tạm trữ 10.000 tấn và sự thiếu hụt công nghệ chế biến sâu tại nhà máy sơ chế Đắk Lắk.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao cho giai đoạn 2012 – 2015, trọng tâm là lắp đặt dây chuyền đánh bóng ướt 5.000 tấn/năm và nâng tỷ lệ chứng chỉ UTZ lên 30%.
  • Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cần khẩn trương rà soát lại chuỗi thu mua, liên kết chặt chẽ với vùng trồng và đẩy mạnh đầu tư công nghệ chế biến sâu để nâng cao giá trị thương hiệu cà phê Việt Nam trên trường quốc tế.