CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm lữ hành, kinh doanh lữ hành, doanh nghiệp lữ hành 1.1 Khái niệm lữ hành Theo nghĩa rộng: Hoạt động lữ hành bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người cũng như các hoạt động liêm quan đến sự di chuyển đó. Với cách tiếp cận này, hoạt động lữ hành có bao hàm yếu tố lữ hành nhưng không phải tất cả các hoạt động lữ hành là hoạt động du lịch Theo nghĩa hẹp: Đề cập đến Lữ hành ở phạm vi hẹp hơn để phân biệt hoạt động kinh doanh du lịch trọn gói với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như: khách sạn, vui chơi giải trí…Người ta giới hạn hoạt động lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các hoạt động du lịch trọn gói. Điểm xuất phát của cách tiếp cận này là người ta cho rằng hoạt động lữ hành chủ yếu là các hoạt động kinh doanh du lịch trọn gói. Theo nghĩa rộng của giáo trình “ Quản trị kinh doanh lữ hành” Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương, NXB Đại học kinh tế quốc dân : “ Lữ hành bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người, cũng như các hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó”.
Trong luật du lịch Việt Nam năm 2017 cũng có đề cập : “ Lữ hành là việc xây dựng,bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch.2 Khái niệm kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành: là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thành lập các hoạt động du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo, bán các chương trình du lịch này một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua các trung gian hay văn phòng đại diện, tổ chức các chương trình du lịch. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành được phép tổ chức các mạng lưới lữ hành. 8 Theo thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 27/2001/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch: “Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi” 1.3 Khái niệm doanh nghiệp lữ hành Theo luật du lịch năm 2017: Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản, trụ sở ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện chương trình du lịch cho khách du lịch. Ngoài ra doanh nghiệp du lịch còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian khác, hoặc kinh doanh tổng hợp các dịch vụ du lịch.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khái niệm marketing và marketing du lịch 1.1 Khái niệm marketing Nhìn chung hiện nay có rất nhiều định nghĩa về marketing nhưng theo các nhà chuyên môn thì định nghĩa của Philip Kotler là toàn diện hơn cả. Theo Philip Kotler :“Marketing là một quá trình phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra các chương trình đã được hoạch định một cách cẩn trọng nhằm mục đích đem lại sự trao đổi tự nguyện về mặt giá trị với thị trường mục tiêu để đạt được các mục tiêu của tổ chức.” Ngoài ra trong giáo trình Marketing căn bản cũng định nghĩa khái niệm marketing như sau: “Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người”.2 Khái niệm marketing du lịch Theo tổ chức du lịch thế giới ( WTO ): “ Marketing du lịch là một triết lý quản trị nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển chọn, dự trên nhu cầu của du khách. Nó có thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp hơp với mục đích thu nhiều lợi nhuận cho các tổ chức du lịch đó”. Theo Robert Lanquar và Robert Hollier : “ Marketing du lịch là một loạt phương pháp kĩ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt nhằm thỏa mãn các nhu cầu không nói ra của khách hàng, có thể là mục đích tiêu khiển hoặc những mục đích khác bao gồm công tác và họp hành.” Từ đó có thể rút ra được định nghĩa Marketing du lịch : “ Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của khách hàng, những sản phẩm, những dịch vụ du lịch và những phương thức cung ứng, hỗ trợ để đưa khách hàng đến với những sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời đạt được những mục tiêu của các tổ chức du lịch”.3 Sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành Sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành là các sản phẩm du lịch.
Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): “ Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch trong quá trình đi du lịch”. Theo luật du lịch Việt Nam năm 2017: “ Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Quan điểm kinh tế hiện đại cho rằng sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm phi hình thể và sản phẩm hình thể vì đây là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người đi du lịch. Cho nên sản phẩm du lịch vô cùng đa dạng phong phú, luôn phát triển đổi mới theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ.
Cụ thể : đó là chương trình tour du lịch nước ngoài, tour du lịch trong nước, tour du lịch theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 teambuilding và tổ chức các sự kiện, làm visa,. Như vậy sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết tạo thành, làm thoả mãn nhu cầu của du khách trong chuyến đi du lịch dựa trên cơ sở là nhu cầu của khách du lịch, khai thác điểm mạnh của khách thể du lịch (danh lam thắng cảnh,…), từ đó đáp ứng tốt nhu cầu của chủ thể du lịch (khách du lịch) 1.4 Khái niệm và vai trò của chính sách sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành 1.1 Khái niệm của chính sách sản phẩm Chính sách sản phẩm là những nguyên tắc chỉ đạo, quy tắc, phương pháp, thủ tục được thiết lập gắn với việc phát triển và đổi mới sản phẩm nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu đã xác định. Chính sách sản phẩm bao gồm toàn bộ các giải pháp định hướng cho việc phát triển sản phẩm, làm cho sản phẩm luôn thích ứng với thị trường, đáp ứng nhu cầu thị trường trong thời kỳ chiến lược xác định.2 Vai trò của chính sách sản phẩm Chính sách sản phẩm có vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp lữ hành: Chính sách sản phẩm là nền tảng xương sống của chiến lược kinh doanh vì chính sách sản phẩm tốt sẽ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của khách hàng, tạo doanh thu và lợi nhuận trong doanh nghiệp. Chính sách sản phẩm là công cụ cạnh tranh mang lại hiệu quả lâu dài.
Trong bối cảnh của ngành kinh doanh du lịch nước ta hiện nay thì các doanh nghiệp đang phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt. Các doanh nghiệp phải sử dụng 2 vũ khí chính để để cạnh tranh - Cạnh tranh bằng giá - Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm dịch vụ đi kèm. Đây là công cụ cạnh tranh mang lại hiệu quả lâu dài Chính sách sản phẩm giúp doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu của chiến lược kinh doanh tổng quát - Mục tiêu lợi nhuận: doanh thu tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí - Mục tiêu vị thế: vị thế của doanh nghiệp trên thị trường được quyết định nhờ chính sách sản phẩm đúng đắn Mục tiêu an toàn: một doanh nghiệp muốn an toàn trong kinh doanh phải có một sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường Chính sách sản phẩm khẳng định chất lượng sản phẩm và chủng loại sản phẩm doanh nghiệp cung cấp 1.2 Nội dung chính sách sản phầm của doanh nghiệp lữ hành 1.1 Xác định kích thước danh mục sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Kích thước danh mục sản phẩm là số sản phẩm cùng với số lượng, chủng loại và mẫu mã sản phẩm. Kích thước tập hợp sản phần bao gồm: chiều rộng, chiều dài và chiều sâu của tập hợp sản phẩm.
Chiều rộng của danh mục sản phẩm : Chiều rộng của danh sản phẩm là tổng số các nhóm chủng loại sản phẩm do doanh nghiệp cung cấp ra thị trường. Doanh nghiệp càng tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo càng tốt vì nó tạo ra sự cạnh tranh và bảo vệ vị trí và uy tín của doanh nghiệp. Chiều dài của danh mục sản phẩm : chiều dài của danh mục sản phẩm hay còn gọi là mức độ phong phú của danh mục sản phẩm cho biết có bao nhiêu chủng loại trong một dòng sản phẩm. Chiều sâu của danh mục sản phẩm: chiều sâu của danh mục sản phẩm là tổng số các phương án của đơn vị sản phẩm cụ thể được chào bán trong từng mặt hàng riêng của một chủng loại Mức độ tương thích hài hòa của danh mục sản phẩm : là mức độ phù hợp giữa các dòng sản phẩm trong danh mục nó tạo nên sự phù hợp giữa hệ thống dịch vụ của doanh nghiệp và nhu cầu của khách hàng.
Bốn thông số đặc trưng cho danh mục sản phẩm mở ra bốn hướng chiến lược mở rộng danh mục sản phẩm 1.2 Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới 1.1 Khái quát về sản phẩm mới Khái niệm: Sản phẩm mới có thể là các sản phẩm mới về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm mới hiện có hoặc những nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của công ty. Nhưng dấu hiệu quan trọng nhất đánh giá sản phẩm đó có là sản phẩm mới hay không phải là sự thừa nhận của khách hàng. Các cấp độ của sản phẩm mới Sản phẩm mới hoàn toàn đối với thế giới Chủng loại của sản phẩm mới thâm nhập vào thị trường đã có Bổ sung chủng loại sản phẩm hiện có Cải tiến sửa đổi những sản phẩm hiện có Định vị lại, đưa những sản phẩm hiện có vào thị trường mới Giảm chi phí để hạ giá thành, để đưa ra sản phẩm có tính năng tương tự nhưng chi phí thấp hơn 1.