CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về chính sách đãi ngộ tài chính 1. Khái niệm nhân lực và quản trị nhân lực 1.Khái niệm nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp Theo khía cạnh con người: Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người trong tổ chức, doanh nghiệp bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực: phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của con người, mức sống, thu nhập, chế độ làm việc, ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi, sức khỏe, tuổi tác, giới tính… Trí lực: bao gồm tài năng, năng khiếu, cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách, phẩm chất, đạo đức… Trí lực của con người thường ở mức độ mới mẻ, không bao giờ cạn kiệt.
Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thì tùy theo loại hình kinh doanh, công việc cụ thể thì yêu cầu về nhân lực mạnh về thể lực hay trí lực sao cho phù hợp. Theo khía cạnh xã hội: Nhân lực của tổ chức là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức đó, được tổ chức quản lý , sử dụng và trả công. Khi đó nhân lực của tổ chức được phản anh thông qua số lượng, chất lượng, cơ cấu ở từng thời kỳ nhất định. Trong đó người lao động được hiểu theo quy định của Bộ Luật lao động (2012) là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động.
Như vậy, nhân lực trong doanh nghiệp kinh doanh được hiểu là: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động”1 1 Giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” – NXB ĐH Kinh tế Quốc dân – Hà Nội – Năm 2012 Luan van 7 Nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực trong từng con người, bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực thể hiện ở sự suy nghĩ, hiểu biết của con người đối với thế giới xung quanh, thể lực là sức khoẻ, khả năng làm việc bằng cơ bắp, chân tay. Nguồn lực phản ánh khả năng lao động của từng con người và là điều kiện cần thiết của quá trình lao động sản xuất xã hội.
Nhân lực của doanh nghiệp chính là tất cả con người có thể tham gia vào bất cứ hoạt động nào của tổ chức với bất cứ vai trò, vị trí nào, kể cả những thành viên trong bộ máy quản lý tổ chức đó. Có nghĩa là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng thể lực và trí lực của mình như sức khoẻ, sự năng động, kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và các giá trị đạo đức. tham gia vào quá trình hoạt động của tổ chức đó. Nhân lực có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, vì yếu tố cơ bản cấu thành nên một tổ chức đó là con người- nguồn lực quý giá của xã hội, nhân lực của mọi quốc gia, tổ chức trong từng thời kì nhất định phản ánh tiềm năng lao động tổng thể của con người trong tổ chức và quốc gia đó.
Trong quá trình hoạt động của các tổ chức thì việc sử dụng tiềm năng nhân lực trong giai đoạn trước đây chủ yếu về mặt thể lực trong khi đó việc khai thác tiềm năng trí lực vẫn còn mới mẻ, nhưng việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực của con người đang chứng tỏ được vai trò quan trọng và ngày càng được coi trọng. Chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tiềm năng lao động bao gồm tiềm năng về thể lực, trí lực và tính năng động xã hội. Nếu như trước đây chi phí lao động rẻ được coi là ưu thế và thế mạnh của một quốc gia thì ngày nay nó được thay bằng khả năng sẵn sàng đáp ứng, thích nghi, trình độ chuyên môn cao của lao động trên thị trường. Nếu đánh giá theo nhóm các yếu tố, thì nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố: số lượng nhân lực, cơ cấu tuổi nhân lực, chất lượng nhân lực, cơ cấu cấp bậc nhân lực.
Số lượng nhân lực thể hiện tổng số người làm việc trong tổ chức và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức.Cơ cấu cấp bậc nhân lực thể hiện số lượng nhân lực ở các cấp bậc khác nhau, yếu tố này là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực và phản ánh các bước thăng tiến Luan van 8 của nhân lực trong tổ chức.Cơ cấu tuổi nhân lực thể hiện số lượng nhân lực ở các độ tuổi khác nhau. Chất lượng nhân lực là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá năng lực của nguồn nhân lực, thể hiện thông qua một số chỉ số như tình trạnh sức khoẻ, trình độ văn hoá, kinh nghiệm, kỹ năng. Khái niệm quản trị nhân lực Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế bao gồm tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn kinh doanh, công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật thì lao động là 1 trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất, nó giữ vị trí trung tâm và tác động cũng như ảnh hưởng lớn tới các nguồn lực khác. Tài nguyên thiên nhiên có phong phú, nguồn vốn dồi dào và khoa học công nghệ có tiên tiến đến đâu mà không có lao động phù hợp thì tất cả những nguồn lực kia sẽ trở thành vô ích thậm chí không chỉ không có hiệu quả mà nó còn có thể gây ra ảnh hưởng trái chiều tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận thức được điều này, các nhà quản trị cần phải nắm được các phương pháp tác động vào đội ngũ nhân lực thông qua hoạt động quản trị nhân lực. Quản trị nhân lực chính là những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp2 Như vậy ta có thể thấy: Thứ nhất, quản trị nhân lực là một lĩnh vực cụ thể của quản trị , vì vậy nó cần phải thực hiện thông qua các chức năng quản trị như hoạch định , tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát một cách đồng bộ cũng như phối hợp chặt chẽ. Thứ hai, quản trị nhân lực phải được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực quản trị khác nhau như quản trị chiến lược, quản trị bán hàng, quản trị tài chính…Với phương diện hỗ trợ, quản trị nhân lực phải phục vụ cho các hoạt động quản trị tác nghiệp khác, bởi các lĩnh vực quản trị này sẽ không thực hiện được nếu thiếu quản trị nhân lực. 2 Giáo trình “Quản trị nhân lực” – NXB Thống kê – Hà Nội – Năm 2000 Luan van 9 Thứ ba, trách nhiệm của quản trị nhân lực liên quan đến mọi nhà quản trị trong doanh nghiệp.
Các nhà quản trị, trong phạm vi bộ phận của mình đều phải triển khai công tác quản trị nhân lực. Thực chất của quản trị nhân lực: là quản trị người lao động trong tổ chức với mục tiêu quản trị là sử dụng có hiệu quả các nguồn lực con người trong các doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên, nhà quản trị phải biết cách lựa chọn, sắp xếp, phối hợp điều động, phân công, kiểm tra các thành viên thuộc tổ chức một cách nhịp nhàng. Công việc này lại càng khó khăn hơn, yêu cầu khả năng của nhà quản trị nói chung và quản trị nhân lực nói riêng càng cao đối với tổ chức lớn, số lượng lao động lên tới hàng trăm hàng ngàn người và rất nhiều các bộ phận khác nhau.
Cụ thể hóa các hoạt động trong quản trị nhân lực bao gồm: công tác tuyển dụng nhân lực, bố trí và sử dụng nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực, đãi ngộ nhân lực. Tất cả các hoạt động trong công tác quản trị nhân lực này đều có tác động qua lại tới nhau. Để tổ chức có thể tuyển dụng được người tài, đòi hỏi bản thân tổ chức đó phải có cách bố trí, phân bổ vị trí công việc cho nhân viên hợp lý hay phải có các chính sách đãi ngộ hợp lý nhất để có thể thu hút và giữ chân người tài. Như vậy, đãi ngộ nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả công tác quản trị nhân lực cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bởi nó có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc của nhân viên trong doanh nghiệp.
Khái niệm đãi ngộ nhân lực Đãi ngộ nhân lực là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, qua đó tạo cho họ sự hứng khởi trong công việc, họ tự giác, chủ động sáng tạo gắn bó với tập thể, có ý thức vươn lên và hết mình vì doanh nghiệp. Đãi ngộ nhân lực là quá trình gồm hai hoạt động có liên quan chặt chẽ đến việc thỏa mãn hai nhóm nhu cầu của người lao động: chăm lo đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đãi ngộ nhân lực là quá trình trong đó thể hiện những quan hệ nhân sự cơ bản nhất của doanh nghiệp: quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, quan hệ giữa nhà quản trị và nhân viên dưới Luan van 10 quyền. Các quan hệ này được thực hiện dưới hai hình thức là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính.
Đãi ngộ tài chính là một động lực quan trọng thúc đẩy nhân viên làm việc nhiệt tình hơn với tinh thần trách nhiệm, phấn đấu nâng cao hiệu quả công việc được giao. Đãi ngộ tài chính trong doanh nghiệp là hình thức đãi ngộ thực hiện bằng các công cụ tài chính, bao gồm nhiều hình thức khác nhau như: tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp, phúc lợi, cổ phần… Hoạt động đãi ngộ tài chính thực chất là quá trình chăm lo đời sống vất chất của người lao động thông qua công cụ là tiền bạc. Thông qua đãi ngộ tài chính, doanh nghiệp khuyến khích người lao động làm việc say mê, nhiệt tình, sáng tạo và quan trọng là tạo ra sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Đãi ngộ phi tài chính là quá trình chăm lo đời sống tinh thần của người lao động thông qua các công cụ không phải vật chất.