Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN 1. Sự hình thành và bản chất của báo cáo bộ phận 1. Sự ra đời của chuẩn mực kế toán về báo cáo bộ phận Vào những năm 1960, quá trình sáp nhập và mua lại đã tạo ra các tập đoàn đa ngành hoặc hoạt động trên nhiều vùng lãnh thổ. Báo cáo tài chính (thường dưới dạng báo cáo tài chính hợp nhất) cung cấp các thông tin tổng thể về toàn doanh nghiệp bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh doanh hoặc các cơ sở, chi nhánh ở nhiều khu vực địa lý.
Tuy nhiên, các lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý có những đặc điểm rất khác nhau về môi trường hoạt động, rủi ro kinh doanh hay tỷ suất sinh lời,… Do đó, nếu người đọc chỉ dựa vào báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn hay toàn doanh nghiệp sẽ không đánh giá chính xác tình hình kinh doanh của từng hoạt động kinh doanh riêng biệt. Người đọc báo cáo tài chính cần có một báo cáo chi tiết về từng bộ phận hoạt động hoặc từng khu vực địa lý nhằm đáp ứng yêu cầu trên. Báo cáo bộ phận ra đời xuất phát từ yêu cầu này. Báo cáo bộ phận cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp có nhiều ngành hàng khác nhau, có cơ sở ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp có phạm vi hoạt động trên nhiều khu vực địa lý khác nhau.
Báo cáo bộ phận nhằm hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính: a) Hiểu rõ về tình hình hoạt động các năm trước của doanh nghiệp; b) Đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp; và c) Đưa ra những đánh giá hợp lý hơn về doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi quan điểm này được đưa ra đã gặp phải sự lo ngại về phía các doanh nghiệp – người cung cấp báo cáo tài chính. Doanh nghiệp không muốn công khai các thông tin bộ phận vì cho rằng điều này trở thành bất lợi về TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 cạnh tranh, hoặc thậm chí bị mất thị trường tiêu thụ. Thông qua thông tin bộ phận, các đối thủ cạnh tranh có thể nhận định được chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp hoặc những điểm then chốt trong quy trình tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chính sự mâu thuẫn giữa quyền lợi giữa doanh nghiệp và các cổ đông công ty đã cản trở quá trình ra đời của chuẩn mực kế toán yêu cầu bắt buộc công bố báo cáo bộ phận trong một thời gian dài. Năm 1966, Tiểu ban Chống độc quyền của Thượng viện Hoa Kỳ đã tổ chức điều trần về vấn đề hợp nhất và hình thành các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ đã dẫn đến yêu cầu Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Hoa Kỳ (Security and Exchange Committee – viết tắt SEC) yêu cầu các công ty niêm yết phải cung cấp các thông tin giúp nhà đầu tư hiểu được hoạt động kinh doanh của các tập đoàn. Năm 1967, Hội đồng Nguyên tắc Kế toán (Accounting Principle Board – viết tắt là APB) thuộc Hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified Accountants) ban hành Công bố số 2 trong đó quy định báo cáo bộ phận là một nội dung tự nguyện trên báo cáo tài chính. Doanh nghiệp có quyền thực hiện hoặc không thực hiện việc công bố các thông tin này.
Lý do là APB cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm của các doanh nghiệp; đặc biệt là thông tin về doanh thu và lợi nhuận bộ phận của các tập đoàn. Công bố số 2 nói trên không đáp ứng được mong đợi của SEC. Do đó, năm 1969, SEC đã đơn phương quy định các công ty niêm yết mới phải công bố thông tin bộ phận. Yêu cầu này sau đó mở rộng cho tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hoa Kỳ.
Cuối cùng, năm 1976, Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) phải ban hành Công bố Chuẩn mực Kế toán tài chính số 14 (SFAS 14) quy định việc lập báo cáo bộ phận bắt buộc bao gồm các nội dung cơ bản như phạm vi áp dụng, cơ sở xác định bộ phận báo cáo, các thông tin cần báo cáo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 SFAS 14 là chuẩn mực đầu tiên trên thế giới yêu cầu về báo cáo bộ phận. Sau đó, các quốc gia cũng như chuẩn mực quốc tế lần lượt đưa ra các quy định tương ứng về vấn đề này. Bản chất báo cáo bộ phận Mặc dù ra đời trong một bối cảnh mang tính chất chính trị, chuẩn mực báo cáo bộ phận tồn tại và phát triển đến ngày nay dựa trên nền tảng của khuôn mẫu lý thuyết kế toán.
Phần dưới đây xuất phát từ khuôn mẫu lý thuyết nhằm xác định bản chất của báo cáo bộ phận. Khuôn mẫu lý thuyết (KMLT) là một hệ thống chặt chẽ các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản có quan hệ tương hỗ, nhằm hướng đến các chuẩn mực nhất quán, quy định về nội dung, chức năng và các giới hạn của kế toán và báo cáo tài chính.1 KMLT của mỗi hệ thống kế toán ở từng quốc gia có cách trình bày khác nhau và có những điểm khác biệt nhất định, tuy nhiên nó thường bao gồm các nội dung cơ bản sau: - Xác định người sử dụng báo cáo tài chính và mục đích của báo cáo tài chính - Xác định các tiêu chuẩn chất lượng hoặc các nguyên tắc cơ bản của báo cáo tài chính, kể cả các hạn chế nếu có trong việc thực hiện các tiêu chuẩn hay nguyên tắc này. - Xác định các yếu tố của báo cáo tài chính, bao gồm cả vấn đề ghi nhận và đánh giá các yếu tố này. 1 FASB, SFAC 1 “Mục đích BCTC của doanh nghiệp”, 1978 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Các tiêu chuẩn chất lượng là các tính chất giúp cho các thông tin trên báo cáo tài chính trở nên hữu ích với người sử dụng.
Theo Khuôn mẫu lý thuyết của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS framework), báo cáo tài chính cần có bốn tiêu chuẩn chất lượng: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh. Trong đó, tính thích hợp của thông tin trên báo cáo tài chính là cơ sở lý luận giải thích cho sự cần thiết của báo cáo bộ phận. Mặt khác, khi áp dụng tiêu chuẩn này, hạn chế về quan hệ lợi ích – chi phí là một vấn đề cần quan tâm. Phần dưới đây trình bày những khái niệm nền tảng này áp dụng cho báo cáo bộ phận.
Tính thích hợp Thông tin hữu ích phải thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người đọc. Thông tin được gọi là thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại hoặc tương lai; cũng như khẳng định hay điều chỉnh các đánh giá trước đây của họ. Nói cách khác, tính thích hợp của thông tin được thể hiện qua hai thuộc tính: Thuộc tính dự đoán: báo cáo tài chính cần cung cấp các dữ liệu đầu vào cho quá trình dự đoán về những triển vọng trong tương lai. Thuộc tính xác nhận: báo cáo tài chính giúp người sử dụng đánh giá mức độ chính xác và tính tin cậy của các dự đoán trước đó.
Tính thích hợp của thông tin phụ thuộc vào nội dung và tính trọng yếu của thông tin. Thông tin được xem là trọng yếu khi sự sai lệch hay bỏ sót thông tin đó có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn của thông tin hay sai sót được xét đoán trong trường hợp cụ thể. Vì vậy, trọng yếu là một ngưỡng phân cách hơn là một tiêu chuẩn chất lượng của thông tin.
Áp dụng vào báo cáo bộ phận, thông tin về doanh thu, kết quả hoạt động cũng như tình hình tài sản, nợ phải trả của các bộ phận đóng vai trò quan trọng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trong chức năng dự đoán đối với các doanh nghiệp hoạt động đa ngành hay có phạm vi địa lý rộng lớn: Kết quả hoạt động bao gồm doanh thu và lợi nhuận được trình bày theo từng bộ phận giúp người đọc báo cáo tài chính có thể theo dõi được cơ cấu của từng hoạt động trong tổng thể hoạt động của doanh nghiệp; qua đó dự đoán những kết quả có thể đạt được trong tương lai khi kết hợp với các thông tin thị trường. Nó cũng giúp tính được các chỉ tiêu sinh lợi của đơn vị và so sánh với các chỉ tiêu ngành một cách phù hợp. Thí dụ, khi đọc báo cáo tài chính một công ty kinh doanh trên các lĩnh vực thương mại, sản xuất và bất động sản; người đọc không thể đánh giá được khả năng sinh lời so với các chỉ tiêu ngành trừ khi kết quả hoạt động phải chia ra theo mỗi ngành nói trên. Tình hình tài chính bao gồm tài sản và nợ phải trả, khi tách biệt cho từng hoạt động sẽ giúp người đọc đánh giá sự phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp cho từng bộ phận có phù hợp với chiến lược phát triển hay không, cấu trúc tài chính của từng bộ phận có đáp ứng được khả năng thanh toán ngắn hạn và dài hạn của từng bộ phận hay không.
Nhìn trên tổng thể, doanh nghiệp có thể có một tình hình tài chính tốt nhưng khi phân bổ không hợp lý về nguồn lực, khả năng thất bại ở một số bộ phận có thể tăng lên khi không đủ nguồn lực trong khi ở một số bộ phận khác, lại xảy ra hiện tượng lãng phí nguồn lực. Điều này đặc biệt quan trọng với các tập đoàn vì trên thực tế, việc chuyển nguồn lực hay nghĩa vụ giữa các bộ phận kinh doanh hay khu vực địa lý không phải dễ dàng do các rào cản về pháp lý, kinh doanh hay hạ tầng cơ sở. Các thông tin bộ phận cũng là một cơ sở quan trọng cho nhận dạng các yếu tố rủi ro cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trở lại thí dụ về công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 ty hoạt động đồng thời trong ba lĩnh vực thương mại, sản xuất và bất động sản nói trên.
Với thông tin về thị trường bất động sản đóng băng và suy giảm trong năm tới, người đọc có thể dựa trên thông tin về các bộ phận để đánh giá các tổn thất có thể có và mức độ tác động đến doanh thu, lợi nhuận cũng như khả năng thanh toán của toàn công ty.