Luận văn thạc sĩ hóa thạch động vật ở di chỉ cổ sinh hang đá đen huyện hàm yên tỉnh tuyên quang trong mối quan hệ với khu hệ động vật cổ ở miền bắc việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hóa thạch động vật tại hang đá đen, tỉnh Tuyên Quang, và mối quan hệ với khu hệ động vật cổ miền Bắc Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2014

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Các di chỉ cổ sinh thuộc thế Pleistocene ở miền Bắc Việt Nam

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hóa thạch động vật ở hang Đá Đen Tuyên Quang

Hang Đá Đen, nằm ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, là một trong những di chỉ cổ sinh quan trọng ở miền Bắc Việt Nam. Nơi đây chứa đựng nhiều hóa thạch động vật có niên đại thuộc thế Pleistocene. Việc nghiên cứu hóa thạch động vật tại đây không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử phát triển của các loài động vật cổ mà còn cung cấp thông tin quý giá về môi trường sống trong quá khứ. Các hóa thạch này phản ánh sự đa dạng sinh học và các điều kiện sinh thái của khu vực trong thời kỳ này.

1.1. Đặc điểm địa lý và địa chất của hang Đá Đen

Hang Đá Đen nằm trong khu vực núi đá vôi, với địa hình đa dạng và khí hậu đặc trưng của miền Bắc Việt Nam. Địa chất của hang chủ yếu là các lớp trầm tích lắng đọng từ hàng triệu năm trước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn hóa thạch động vật. Các nghiên cứu cho thấy, trầm tích trong hang chứa nhiều hóa thạch của các loài động vật lớn như voi, tê giác và nhiều loài thú khác.

1.2. Lịch sử khai quật và nghiên cứu tại hang Đá Đen

Kể từ khi được phát hiện vào năm 2004, hang Đá Đen đã trải qua nhiều đợt khai quật và nghiên cứu. Viện Khảo cổ học và các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiến hành khai quật để thu thập mẫu hóa thạch. Những kết quả ban đầu cho thấy sự phong phú của quần thể động vật cổ tại đây, góp phần làm sáng tỏ lịch sử sinh thái của khu vực.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu hóa thạch động vật

Mặc dù hang Đá Đen là một di chỉ quan trọng, nhưng việc nghiên cứu hóa thạch động vật tại đây cũng gặp nhiều thách thức. Các hoạt động khai thác tài nguyên và sự xâm hại của con người đang đe dọa đến sự tồn tại của các hóa thạch. Việc bảo vệ và nghiên cứu các di chỉ cổ sinh này là rất cần thiết để bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử tự nhiên của Việt Nam.

2.1. Nguy cơ từ hoạt động khai thác tài nguyên

Hoạt động khai thác đá vôi và trầm tích để phục vụ cho xây dựng và sản xuất đã gây ra nhiều thiệt hại cho hang Đá Đen. Nhiều hóa thạch đã bị phá hủy hoặc mất đi do các hoạt động này. Việc quản lý và bảo vệ di chỉ cổ sinh này cần được thực hiện nghiêm túc để ngăn chặn tình trạng này.

2.2. Thiếu nguồn lực cho nghiên cứu và bảo tồn

Nghiên cứu hóa thạch động vật đòi hỏi nguồn lực tài chính và nhân lực đáng kể. Tuy nhiên, hiện tại, các dự án nghiên cứu tại hang Đá Đen vẫn gặp khó khăn trong việc huy động nguồn lực. Điều này ảnh hưởng đến khả năng khai thác thông tin từ các hóa thạch và bảo tồn di sản văn hóa quý giá này.

III. Phương pháp nghiên cứu hóa thạch động vật ở hang Đá Đen

Để nghiên cứu hóa thạch động vật tại hang Đá Đen, các nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc khai quật, phân loại đến định tuổi hóa thạch, mỗi bước đều cần sự chính xác và tỉ mỉ. Các phương pháp hiện đại như phân tích DNA và định tuổi bằng phương pháp đồng vị cũng được sử dụng để cung cấp thông tin chi tiết hơn về các hóa thạch.

3.1. Phương pháp khai quật và xử lý mẫu vật

Khai quật hóa thạch tại hang Đá Đen được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt. Các mẫu vật được thu thập và xử lý cẩn thận để đảm bảo không làm hỏng cấu trúc hóa thạch. Sau khi thu thập, các mẫu sẽ được đưa về phòng thí nghiệm để phân tích và nghiên cứu.

3.2. Phương pháp phân loại và định tuổi hóa thạch

Phân loại hóa thạch động vật được thực hiện dựa trên các đặc điểm hình thái và cấu trúc. Các nhà khoa học sử dụng các tiêu chí khoa học để xác định loài và nhóm động vật. Định tuổi hóa thạch cũng được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, giúp xác định thời gian tồn tại của các loài động vật cổ tại hang Đá Đen.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu hóa thạch động vật ở hang Đá Đen đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về quần thể động vật cổ ở miền Bắc Việt Nam. Những phát hiện này không chỉ giúp làm sáng tỏ lịch sử sinh thái mà còn có thể ứng dụng trong việc bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái tại khu vực. Các hóa thạch động vật đã được phân loại và xác định niên đại, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học.

4.1. Phát hiện mới về quần thể động vật cổ

Nghiên cứu đã phát hiện nhiều loài động vật cổ mới, góp phần làm phong phú thêm danh sách các loài đã được biết đến trước đây. Những phát hiện này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa lớn trong việc hiểu biết về sự phát triển của hệ sinh thái trong quá khứ.

4.2. Ứng dụng trong bảo tồn và phát triển du lịch

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chương trình bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái tại hang Đá Đen. Việc giới thiệu các hóa thạch động vật cổ đến với công chúng sẽ giúp nâng cao nhận thức về giá trị của di sản văn hóa và lịch sử tự nhiên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu hóa thạch động vật ở hang Đá Đen đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà khoa học trong việc tìm hiểu về lịch sử sinh thái của miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát triển bền vững, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, nhà khoa học và cộng đồng địa phương. Việc bảo vệ di chỉ cổ sinh này không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân hay tổ chức mà là của toàn xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn di chỉ cổ sinh

Bảo tồn hang Đá Đen không chỉ giúp gìn giữ di sản văn hóa mà còn bảo vệ môi trường sinh thái. Các hóa thạch động vật là chứng cứ sống động về lịch sử phát triển của các loài và môi trường sống trong quá khứ.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các hóa thạch động vật tại hang Đá Đen. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu sẽ giúp thu thập thêm nhiều thông tin quý giá, từ đó làm sáng tỏ hơn về lịch sử sinh thái của khu vực.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Đông Nam Á là miền địa động vật học có sự đa dạng phong phú vào bậc nhất trên trái đất hiện nay, nơi đây đã thu hút nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quần cƣ động vật cả hiện đại và trong quá khứ. Trong đó quần cƣ động vật có tuổi thuộc thế Pleistocene cũng đã có nhiều nghiên cứu, đóng góp vào việc tìm hiểu lịch sử phát triển cổ sinh vật, cổ môi trƣờng khu vực. Các di chỉ cổ sinh đã phát hiện và nghiên cứu đã góp phần phác họa nên một bức tranh tƣơng đối về cổ sinh, cổ nhân và môi trƣờng với sự biến động mạnh mẽ về khí hậu và cảnh quan địa lý khu vực, phần nào dẫn đến sự tuyệt chủng của một số nhóm thú lớn. Thêm nữa sự xuất hiện của các nhóm/loài ngƣời (Homo erectus, Homo sapiens) trong thế Pleistocne trong khu vực là những vấn đề cần tiếp tục tìm kiếm thêm các dữ liệu và đi sâu nghiên cứu.

Miền Bắc Việt Nam là khu vực có giá trị nghiên cứu quan trọng với hệ thống núi đá vôi xen kẽ đồi núi đất tạo nên một môi trƣờng thuận lợi cho sinh vật sinh tồn, phát triển và điều kiện lƣu giữ các di tích hóa thạch của các sinh vật cổ. Hóa thạch tìm thấy trong trầm tích ở các hang động núi đá vôi. Hầu nhƣ trong các hang động nhiều ít đều có trầm tích lắng đọng. Tuy vậy, không phải cứ có trầm tích là có hóa thạch.

Vì vậy mỗi di chỉ có hóa thạch đã dƣợc khai quật và nghiên cứu đều là rất quan trọng. Những di tích và di vật này đã phản ánh thực tế lịch sử môi trƣờng và thế giới động thực vật trong quá khứ. Ở nƣớc ta cho tới nay số lƣợng hang động ghi nhận có chứa trầm tích chứa hóa thạch khá nhiều nhƣng chỉ một số ít có thể khai quật nghiên cứu. Những thập niên gần đây, các di chỉ cổ sinh đang đứng trƣớc nguy cơ bị xâm hại bởi hoạt động của con ngƣời, nhƣ hoạt động khai thác trầm tích để làm phân lân hoặc thậm chí ngƣời dân tìm kiếm khoáng vật quý, hóa thạch để bán bán.

Việc khai thác ồ ạt núi đá vôi để làm xi măng, kiến thiết đƣờng xá, nung vôi. là một nguy cơ lớn với các di tích chứa hóa thạch ngƣời và động vật cổ ở Việt Nam. Hang Đá Đen huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang đã bị ngƣời dân địa phƣơng đào phá trầm tích, hóa thạch để bán nhƣ vậy. Các đợt khai quật nghiên cứu 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hang Đá Đen do Viện Khảo cổ học tiến hành đã góp phần gìn giữ một di chỉ cổ sinh quan trọng ở tỉnh Tuyên Quang.

Luận văn "Hóa thạch động vật ở di chỉ cổ sinh hang Đá Đen, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong mối quan hệ với khu hệ động vật cổ ở miền Bắc Việt Nam" đƣợc thực hiện với các mục tiêu: - Khai quật, nghiên cứu phân loại các hóa thạch thu đƣợc trong các đợt khai quật hang Đá Đen. - Xác lập mối quan hệ giữa quần cƣ động vật hang Đá Đen với khu hệ động vật cổ có niên đại tƣơng đƣơng thuộc thế Pleistocene ở miền Bắc Việt Nam. - Góp phần tƣ liệu nghiên cứu về phạm vi phân bố một số nhóm thú lớn trong thế Pleistocene, tìm hiểu nguyên nhân thu hẹp vùng phân bố/tuyệt diệt của các loài thú lớn từng phổ biến trong thế Pleistocene. Các số liệu trong luận văn đã đƣợc tác giả trực tiếp tham gia thực hiện và đƣợc sự đồng ý cho phép sử dụng số liệu của các nhà khoa học trong nhóm khai quật và các tác giả đã nghiên cứu trƣớc đây ở hang Đá Đen.

2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. Các di chỉ cổ sinh thuộc thế Pleistocene ở miền Bắc Việt Nam Lịch sử phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học tiền sử ở Việt Nam bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ 20 với những cuộc điền dã, khai quật của một số nhà địa chất ngƣời Pháp. Các di cốt động vật trong các địa điểm này chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu đầy đủ, tuy nhiên một số di tích hóa thạch động vật niên đại Pleistocene muộn cũng đã đƣợc công bố nhƣ phát hiện của H.Mansuy về các loài có vú hóa thạch ở hang Phai Vệ, Lạng Sơn năm 1916. Fromajet đã khai quật hang Thung Lang (Ninh Bình) tìm thấy Pongo, Ailuropoda cùng sọ và răng ngƣời hóa thạch có niên đại sơ kỳ kỷ Đệ Tứ, các hóa thạch ở Thung Lang lƣu tại Sở địa chất thành phố Hồ Chí Minh đã đƣợc Lê Trung Khá nghiên cứu lại năm 1978 và kết luận các tiêu bản còn lại đều là răng của Pongo và có niên đại Pleistocene muộn [14].

Các di tích khảo cổ học động vật đã từng bƣớc đƣợc khảo sát, khai quật và nghiên cứu bài bản với sự ra đời của cơ quan chuyên nghiên cứu khảo cổ học. Năm 1960, Đội khảo cổ thuộc bộ Văn hóa đƣợc thành lập. Năm 1968,thành lập Viện Khảo cổ học thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam nay là Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Từ đó đến nay, hàng loạt các cuộc điều tra, thám sát và khai quật các di tích hang động đã đƣợc tiến hành trên hầu hết các tỉnh miền Bắc.

Luận văn này chỉ tập trung so sánh giữa di tích hang Đá Đen với những di chỉ có niên đại thuộc thế Pleistocene. Các địa điểm có chứa di tích động vật đã đƣợc khảo sát đƣơ ̣c xác định có niên đại từ thế Pleistocene tới đầu thế Holocene ở Việt Nam đƣợc thống kê khá đầy đủ trong cuốn sách "Môi trƣờng và văn hóa cuối Pleistocene đầu Holocene" [24]. Trong thời gian gần đây, đã có thêm một số di tích cổ sinh mới đƣợc phát hiện ở các tỉnh phía Bắc. Mô tả sơ bộ sau đây về các di chỉ tập trung vào thời gian, địa điểm phát hiện, đặc điểm trầm tích, tuổi dự đoán của lớp trầm tích, các hóa thạch đƣợc ghi nhận, với các di chỉ đƣợc khai quật phần hóa thạch sẽ đƣợc đề cập kỹ hơn ở các chƣơng sau.

3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quần cƣ động vật hang động có niên đại thế Pleistocene đã đƣợc khai quật và nghiên cứu đáng chú ý nhất là ở các di tích hang động: Hang Hùm ở tỉnh Yên Bái, hang Thẩm Khuyên, hang Kéo Lèng và hang Cốc Mƣời ở tỉnh Lạng Sơn, hang Đá Đen ở tỉnh Tuyên Quang, hang Thẩm Ồm ở tỉnh Nghệ An, hang Làng Tráng ở tỉnh Thanh Hóa, hang Đƣời Ƣơi, hang Ma Ƣơi ở tỉnh Hòa Bình, hang Mã Tuyển ở tỉnh Lào Cai. - Hang Hùm ở xã Đồng Tâm, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đƣợc khai quật năm 1963, hợp tác giữa các nhà khoa học Việt Nam và chuyên gia cổ sinh đệ tứ H.Kahlke của Cộng hòa dân chủ Đức (cũ). Trầm tích trong hang có hai thời kỳ lắng đọng khác nhau, xen giữa là thời kỳ sói mòn của sông. Trầm tích màu vàng, rắn chắc có tuổi dự đoán thuộc Pleistocene muộn.

Trầm tích bở rời hơn có tuổi trẻ hơn lớp Pleistocene muộn ở trên. Hiện tại hang Hùm đã bị ngập nƣớc bởi công trình thủy điện [26]. - Hang Thẩm Khuyên và hang Thẩm Hai là hai hang thuộc cùng một quả núi, cách nhau khoảng 20m, đƣợc thám sát năm 1964. Hang Thẩm Khuyên đƣợc khai quật năm 1965 do Lê Trung Khá và Trần Văn Bảo chủ trì khai quật.

Hầu hết thạch nằm trong lớp trầm tích rắn chắc màu đỏ nhạt, hầu hết hóa thạch là răng rời và mảnh xƣơng có dẫu vết gặm của các loài gặm nhấm và thú lớn. Tuổi trầm tích dự đoán tuộc giai đoạn cuối Pleistocene giữa. Đây là hang duy nhất ở Việt Nam tìm thấy một số răng rời đƣợc nhiều nhà khoa học định loài là của ngƣời vƣợn Homo erectus [13]. Năm 1996, Ciochon và cộng sự đã tiến hành lấy mẫu trầm tích và hóa thạch để định niên đại cho quần cƣ động vật hang Thẩm Khuyên (hình 1.

Phƣơng pháp ESR dùng trực tiếp dùng men răng hóa thạch để định tuổi cũng cho tuổi của hóa thạch là 475., đây là di chỉ cổ nhất thuộc thế Pleistocene đã đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam [44]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vị trí, cảnh quan và địa tầng trầm tích hang Thẩm Hai [44] - Hang Thẩm Hai hiện chƣa đƣợc khai quật nhƣng kết quả khảo sát cũng đã tìm thấy một số răng động vật trong trầm tích rất cứng [11]. - Hang Kéo Lèng (hình 1.2) ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn do Lê Trung Khá và Trần Văn Bảo chủ trì khai quật năm 1966.

Hóa thạch nằm trong lớp trầm tích màu vàng nhạt tạo thành một thềm bằng phẳng trên nền hang, bên trên 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phủ một lớp thạch nhũ dày. Cuộc khai quật thu đƣợc rất nhiều hóa thạch xƣơng răng với thành phần loài đa dạng, đây là di chỉ tìm đƣợc khá nhiều mảnh xƣơng lớn, hàm, sọ với mức độ bảo tồn tốt. Niên đại dự đoán thuộc Pleistocene muộn. Hang Kéo Lèng - Hang Thẩm Ồm, thuộc xã Quy Thuận, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An đƣợc phát hiện năm 1973 và khai quật năm 1975.

Hang có hai cửa thông nhau, khá rộng rãi. Phần lớn hóa thạch động vật tìm thấy trong trầm tích màu vàng rắn chắc bám trên vách hang cách cửa phía Tây của hang khoảng 11m. Ƣớc đoán tuổi của quần cƣ động vật hóa thạch này khoảng Pleistocene muộn [12]. - Hang Làng Tráng ở xã Lâm Sa, huyện Bá Thƣớc, tỉnh Thanh Hóa đƣợc khai quật năm 1989 và năm 1993 trong khuôn khổ chƣơng trình hợp tác Việt-Mỹ.

Hang Làng Tráng đƣợc đặt tên chung cho cụm 4 hang nằm cạnh nhau ở một quả núi, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là các hang Làng Tráng I, II, III, IV. Trầm tích chứa hóa thạch nằm bám vách và trần hang. Cả hai lần khai quật đã thu đƣợc một khối lƣợng khá lớn hóa thạch động vật, niên đại Pleistocene muộn. - Hang Ma Ươi (hình 1.3) thuộc thị trấn Mẫn Đức, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Hang Ma Ƣơi đƣợc phát hiện từ năm 1999 và khai quật vào các năm 2001- 2002 trong chƣơng trình hợp tác Việt-Pháp. Các di cốt động vật hóa thạch có niên đại dự đoán Pleistocene muộn [23]. Quần cƣ động vật thứ nhất trong trầm tích bám vách/nền hang có chứa răng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rời của các loài thú hiện còn tồn tại ở Việt Nam nhƣ Nai Rusa unicolor, Hoẵng Muntiacus muntjak, Tê giác một sừng Java Rhinoceros sondaicus, Tê giác một sừng Ấn Độ Rhinoceros cf. unicornis, khỉ Macaca sp., Chó sói Cuon sp., Voi Elephas sp., Lợn Sus scrofa, và răng của một loài đã tuyệt chủng là Voi cổ Elephas aff.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ