Công Tác Xã Hội Với Vấn Đề Hòa Nhập Của Trẻ Mắc Hội Chứng Tự Kỷ Tại Các Trường Tiểu Học Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công tác xã hội và hòa nhập trẻ tự kỷ tại trường tiểu học Hà Nội, góp phần nâng cao nhận thức và hỗ trợ.

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.3. Lịch sử nghiên cứu Hội chứng tự kỉ trên thế giới

1.4. Lịch sử nghiên cứu Hội chứng tự kỉ ở Việt Nam

1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.5.1. Ý nghĩa về mặt lý luận

1.5.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

1.6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.6.1. Mục đích nghiên cứu

1.6.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.7. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.7.1. Đối tượng nghiên cứu

1.7.2. Khách thể nghiên cứu

1.8. Câu hỏi nghiên cứu

1.9. Giả thuyết nghiên cứu

1.10. Phương pháp nghiên cứu

1.10.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

1.10.2. Phương pháp quan sát

1.10.3. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)

1.10.4. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

1.10.5. Phương pháp phỏng vấn sâu

2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ HÒA NHẬP CỦA TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỈ TẠI TRƢỜNG TIỂU HỌC

2.1. Thực trạng vấn đề hòa nhập của trẻ mắc HCTK tại trường tiểu học

2.2. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về thực hiện GDHN trẻ mắc HCTK trên địa bàn Hà Nội

2.3. Nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ mắc HCTK khi học hòa nhập tiểu học

3. CHƯƠNG 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỈ HÒA NHẬP TẠI TRƢỜNG HỌC

3.1. Vai trò trợ giúp trực tiếp của NVCTXH đối với học sinh mắc HCTK và gia đình

3.2. NVCTXH trợ giúp giáo viên thực hiện các nhiệm vụ GDHN tại trường tiểu học

3.3. NVCTXH trợ giúp nhà quản lý giáo dục

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hòa nhập trẻ mắc hội chứng tự kỷ tại trường tiểu học Hà Nội

Hòa nhập trẻ mắc hội chứng tự kỷ (HCTK) tại trường tiểu học Hà Nội là một vấn đề xã hội quan trọng. Sự gia tăng số lượng trẻ mắc HCTK đã đặt ra nhiều thách thức cho hệ thống giáo dục. Việc hiểu rõ về HCTK và các phương pháp giáo dục hòa nhập là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho trẻ em. Các nghiên cứu cho thấy rằng trẻ mắc HCTK cần được hỗ trợ đặc biệt để có thể hòa nhập tốt hơn vào môi trường học tập.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hội chứng tự kỷ

Hội chứng tự kỷ là một rối loạn phát triển ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và tương tác xã hội. Trẻ mắc HCTK thường gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ, cũng như trong việc phát triển các kỹ năng xã hội. Đặc điểm này cần được nhận diện sớm để có phương pháp can thiệp kịp thời.

1.2. Tình hình trẻ mắc hội chứng tự kỷ tại Hà Nội

Theo thống kê, tỷ lệ trẻ mắc HCTK tại Hà Nội đang gia tăng. Nhiều trẻ em không được phát hiện và can thiệp sớm, dẫn đến khó khăn trong việc hòa nhập vào môi trường học tập. Các bậc phụ huynh và giáo viên cần nâng cao nhận thức về HCTK để hỗ trợ trẻ tốt hơn.

II. Thách thức trong việc hòa nhập trẻ mắc hội chứng tự kỷ tại trường tiểu học

Việc hòa nhập trẻ mắc HCTK tại trường tiểu học gặp nhiều thách thức. Các giáo viên thường thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để dạy trẻ mắc HCTK. Bên cạnh đó, sự kỳ thị từ bạn bè và cộng đồng cũng là một rào cản lớn. Những khó khăn này cần được giải quyết để trẻ có thể phát triển toàn diện.

2.1. Thiếu kiến thức và kỹ năng của giáo viên

Nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về cách dạy trẻ mắc HCTK. Điều này dẫn đến việc họ không biết cách áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho giáo viên để họ có thể hỗ trợ trẻ tốt hơn.

2.2. Sự kỳ thị từ bạn bè và cộng đồng

Trẻ mắc HCTK thường phải đối mặt với sự kỳ thị từ bạn bè và cộng đồng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ mà còn làm giảm khả năng hòa nhập của trẻ vào môi trường học tập. Cần có các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng để giảm thiểu sự kỳ thị này.

III. Phương pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ mắc hội chứng tự kỷ

Để hỗ trợ trẻ mắc HCTK hòa nhập tốt hơn, cần áp dụng các phương pháp giáo dục hòa nhập hiệu quả. Các phương pháp này bao gồm can thiệp sớm, giáo dục cá nhân hóa và sự hỗ trợ từ nhân viên công tác xã hội. Những phương pháp này đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội và học tập.

3.1. Can thiệp sớm và giáo dục cá nhân hóa

Can thiệp sớm là rất quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ mắc HCTK. Các chương trình giáo dục cá nhân hóa giúp trẻ phát triển kỹ năng cần thiết để hòa nhập vào môi trường học tập. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong quá trình can thiệp.

3.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ mắc HCTK. Họ có thể giúp giáo viên hiểu rõ hơn về trẻ và cung cấp các phương pháp giáo dục phù hợp. Sự hỗ trợ này giúp trẻ có cơ hội hòa nhập tốt hơn vào môi trường học tập.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hòa nhập trẻ mắc hội chứng tự kỷ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp giáo dục hòa nhập có thể mang lại kết quả tích cực cho trẻ mắc HCTK. Các trường học đã bắt đầu triển khai các chương trình hỗ trợ và can thiệp sớm, giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội và học tập. Những kết quả này cần được nhân rộng để nhiều trẻ em có cơ hội hòa nhập hơn.

4.1. Kết quả từ các chương trình can thiệp

Các chương trình can thiệp sớm đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kỹ năng giao tiếp và xã hội của trẻ mắc HCTK. Nhiều trẻ đã có thể hòa nhập tốt hơn vào lớp học và phát triển các kỹ năng cần thiết.

4.2. Những mô hình thành công trong giáo dục hòa nhập

Một số mô hình giáo dục hòa nhập thành công đã được triển khai tại Hà Nội. Những mô hình này không chỉ giúp trẻ mắc HCTK mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về hội chứng này. Cần tiếp tục phát triển và nhân rộng các mô hình này để hỗ trợ nhiều trẻ hơn.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho hòa nhập trẻ mắc hội chứng tự kỷ

Hòa nhập trẻ mắc HCTK tại trường tiểu học là một vấn đề cần được quan tâm và giải quyết. Cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng để tạo ra môi trường học tập thân thiện và hỗ trợ cho trẻ. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức, đào tạo giáo viên và phát triển các chương trình can thiệp hiệu quả.

5.1. Tăng cường nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức cộng đồng về HCTK là rất quan trọng. Các hoạt động truyền thông và giáo dục có thể giúp giảm thiểu sự kỳ thị và tạo ra môi trường thân thiện cho trẻ mắc HCTK.

5.2. Đào tạo và phát triển chương trình giáo dục

Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho giáo viên về HCTK và các phương pháp giáo dục hòa nhập. Điều này sẽ giúp giáo viên tự tin hơn trong việc hỗ trợ trẻ và tạo ra môi trường học tập tích cực.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh công tác xã hội với vấn đề hòa nhập của trẻ mắc hội chứng tự kỉ tại các trường tiểu học trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, HCTK đang là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội và được xem là một trong các dạng rối loạn tâm thần ở trẻ em kể từ khi được mô tả và nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1943 bới Leo Kanner. Hội chứng này làm cho trẻ không có khả năng hoà nhập cộng đồng, ảnh hưởng cả về mặt thể chất và tinh thần tới sự phát triển của trẻ. Ở Việt Nam, số trẻ mắc HCTK ngày càng được phát hiện nhiều hơn đặc biệt là ở những đô thị lớn như Hà Nội.

Theo thống kê của ngành giáo dục thành phố Hà Nội thì khuyết tật tự kỷ chiếm tỷ lệ cao nhất trong các dạng khuyết tật khác trong trường học (30%). Lĩnh vực giáo dục trẻ em mắc HCTK đang được quan tâm bởi không chỉ các bậc cha mẹ, các giáo viên mà cả các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học, tâm lý học và CTXH nhằm xây dựng những giải pháp hỗ trợ trẻ trong học tập và hòa nhập xã hội một cách hiệu quả. Học sinh mắc HCTK ở tiểu học thường là những trẻ TK dạng nhẹ, tức là có những “nét tự kỉ” hoặc những trẻ đã được can thiệp sớm ở lứa tuổi mầm non được khắc phục những khó khăn của HCTK nên được đi học trong lớp hòa nhập. Đây là dạng khuyết tật chưa có nhiều người biết đến nên chưa được quan tâm đúng mức.

Những học sinh này chưa có sự đãi ngộ nào về chính sách giáo dục vì chúng được xem như những đứa trẻ bình thường. Các em chưa được hưởng một phương pháp giáo dục phù hợp do các giáo viên tiểu học chưa thực sự nắm rõ về dạng trẻ này và thiếu các kiến thức về dạy học hòa nhập. Bên cạnh đó, những học sinh mắc HCTK này còn gặp rất nhiều khó khăn do HCTK mang lại, đó là các vấn đề khó khăn trong giao tiếp, học hỏi kỹ năng sống, sự kỳ thị của thầy cô bạn bè, chưa có chương trình học dành riêng cho trẻ TK. Thực tế chưa có công trình nghiên cứu nào trong lĩnh vực CTXH học đường được tiến hành để khảo sát những rào cản khó khăn trong vấn đề hòa nhập của trẻ TK ở trường tiểu học, từ đó lấy cơ sở để xây dựng giải pháp cũng như phương án trợ giúp từ góc độ của NVCTXH chuyên nghiệp đối với đối tượng này.

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Công tác xã hội với vấn đề hòa nhập của trẻ mắc hội chứng tự kỉ tại các trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội” cho luận văn thạc sĩ của mình. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Lịch sử nghiên cứu HCTK trên trên thế giới HCTK đã được các nhà khoa học xem xét, nghiên cứu từ rất lâu trước khi hội chứng này được mô tả và gọi tên.

Vào tháng 1 năm 1801, bác sĩ người Pháp tên là Jean- Marc-Gaspard Itard đã công bố về trường hợp của cậu bé 12 tuổi tên là Victor. Cậu bé bị câm và có những hành vi xa lạ. Itard cho rằng nguyên nhân của điều này là do cậu bé đã bị tách khỏi thế giới con người từ khi mới một tuổi. Harlan Lane, một nhà tâm lý chuyên nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ, lời nói đã đưa ra những ý kiến của Itard vào cuốn sách “Cậu bé hoang dã vùng Averyon”.

Những gì được viết trong cuốn sách khi đối chiếu với quan điểm hiện nay của chúng ta cho thấy cậu bé Victor có những hành vi giống với những trẻ mắc HCTK. Trong mô tả của Itard, Victor không nói được, khi muốn lái xe 3 bánh, cậu đẩy tay của ai đó, đặt lên yên xe sau đó ngồi lên xe và đợi được đẩy xe đi. Itard dành thời gian để dạy Victor chơi với những đồ chơi khác nhau, kết quả là cậu bỏ đi và để những đồ chơi đó lại hoặc là phá chúng.[16] Trái ngược với những suy luận của Itard, Philipine Pinel, một bác sĩ nổi tiếng cùng thời cho rằng cậu bé này đã có những khó khăn về học từ lúc sinh ra. Itard và một số người cho rằng sở dĩ cậu bé có những hành vi như vậy là vì cậu bé đã bị tách khỏi thế giới của con người.

Nhưng trên thực tế Itard đã phát hiện ra cậu bé vào năm 1799 khi đó cậu khoảng 9 tuổi hoặc 10 tuổi, câu bé ở trần và sống trên một cánh đồng lúa mì, hoa quả và các loại rau. Cậu bé có một vết sẹo dài ở cổ, điều đó gợi giả thuyết đã có một ai đó cố gắng giết cậu, Victor không hoàn toàn bị tách khỏi thế giới loài người. Một giả thuyết khác được đặt ra là bố mẹ cậu bé đã bỏ rơi cậu có thể do cậu đã mắc chứng “Tự kỉ” và có những vấn đề về hành vi.[ 16] Một vài năm sau sự kiện cậu bé Victor, năm 1809, John Haslam đã đưa ra trường hợp của một cậu bé bị bệnh sởi. Những hành vi của cậu cũng gần như một đứa trẻ mắc chứng TK mà chúng ta vẫn thấy hiện nay: nhại lời, thiếu kiên nhẫn, có hành vi bạo lực.

Cậu bé đã được đưa tới bệnh viên Hoàng gia Bethlem khi lên 5 tuổi.[16] 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “rối loạn tâm thần” lần đầu tiên được sử dụng để chỉ một số trẻ em có những hành vi kì quái và xa lạ bởi nhà tâm lý học Henry Maudsley. Những hành vi đó có nhiều điểm giống với chứng TK mà ngày nay chúng ta biết tới. Đến năm 1919, nhà tâm lí học người Mĩ Lighner Witmer đã viết về cậu bé Don 2 tuổi 7 tháng có những hành vi giống như là một đứa trẻ mắc HCTK, cậu bé học tại trường đặc biệt của Witmer. Việc dạy theo mô hình can thiệp cá nhân đã giúp cậu bé này tiến bộ trong các hoạt động tại trường và giúp cậu thực hành những kỹ năng theo mệnh lệnh.

Như vậy mặc dù chưa được chính thức gọi tên nhưng những vấn đề về HCTK có thể được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu. Tuy nhiên việc nghiên cứu về HCTK thời kỳ này vẫn còn rời rạc, các nhà nghiên cứu đã mô tả về những cậu bé có biểu hiện TK mà không xem xét xem liệu những đứa trẻ khác có những vấn đề tương tự như vậy không? Đến đầu thế kỷ XX, những tiến bộ trong nghiên cứu về HCTK mới được phát triển rõ nét với các công trình nghiên cứu của Leo Kaner và Hans Asperger. Năm 1943, Leo Kaner đã công bố những nghiên cứu của mình về HCTK, trong báo cáo của mình ông đã mô tả hành vi của trẻ và lập các tiêu chí để chuẩn đoán. Ông cho rằng TK là một dạng rối nhiễu về tinh thần không phải là rối nhiễu về thể chất và cách mà cha mẹ giáo dục chăm sóc con cái là nguyên nhân của tất cả vấn đề trên.

Năm 1944, Hans Asperger đã công bố nghiên cứu của ông trên nhóm trẻ có hành vi mà hiện nay chúng ta gọi là hội chứng Asperger và ông tin rằng hội chứng mà ông mô tả thì khác với HCTK mà kanner mô tả mặc dù có nhiều điểm tương đồng. [16] Mặc dù những quan điểm của Kanner và Asperger vẫn còn có một số vấn đề hạn chế như việc cho rằng cách chăm sóc và giáo dục của cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến HCTK (điều mà ngày nay các nghiên cứu đã chỉ ra rằng là chưa hợp lý) nhưng những đóng góp của ông trong việc nghiên cứu HCTK là hết sức to lớn. Hai ông có thể được coi là những người đặt viên gạch đầu tiên cho khoa học nghiên cứu về HCTK. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vào những năm 60 của thế kỷ XX, một số nơi trên thế giới đã thành lập tổ chức của các bậc cha mẹ có con mắc HCTK.

Tiêu biểu là tổ chức của hội cha mẹ có con mắc HCTK ở Anh (ngày nay được gọi là Hội TK quốc gia). Hoạt động của tố chức giúp cho mọi người ngày càng hiểu biết hơn về HCTK. Từ đây nhiều công trình nghiên cứu mà tiêu biểu là nghiên cứu của Michael Rutter đã chỉ ra rằng cách chăm sóc, giáo dục của cha mẹ không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ mắc chứng TK. Những dấu hiệu của chứng TK có thể xuất hiện từ lúc trẻ sinh ra hoặc từ rất sớm.

Một số nhà nghiên cứu tâm bệnh học trẻ em đã cho rằng rối nhiễu TK là một dạng của tâm thần phân liệt.Tuy nhiên những nghiên cứu của Israel Kolvin và cộng sự của mình vào những năm 70 của thế kỷ XX đã chỉ ra rằng HCTK có khác biệt với dạng tâm thần phân liệt. Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu xem xét đến khái niệm phổ TK. Những thay đổi trong quan điểm về hội chứng TK có thể được tìm thấy trong lịch sử phát triển của hai hệ thống phân loại quốc tế: Bảng thống kê phân loại Quốc tế về các bệnh và những vấn đề liên quan đến sức khỏe (Internetional Satistical Classification of Diseases and Related Health Problems- ICD) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tinh thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders- DSM) của Hội tâm thần Mĩ. Trong những bản đầu tiên, ICD chưa hề đề cập tới chứng TK.

Trong bản thứ 8 (1967), ICD chỉ đề cập tới tự kỉ như một dạng “Tâm thần phân liệt” và lần thứ 9 (1977) thì đề cập tới Tự kỉ dưới tên gọi “Rối loạn tâm thần ấu thơ”. Trong bản thứ 10 của ICD và bản thứ 3, bản thứ 3 có sửa chữa, bản thứ 4 của DSM đã đề cập tới thuật ngữ phổ TK và định nghĩa đó là một “Rối loạn phát triển diện rộng” chứ không phải là “Rối loạn tâm thần”. Phần lớn các cha mẹ ở Anh thì không thích dùng thuật ngữ “Rối loạn phát triển diện rộng”, họ thích dùng là “Rối nhiễu phổ TK”, thuật ngữ này cũng được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu. HCTK đã trở thành một “đại dịch” ở các nước công nghiệp, số trẻ em mắc chứng TK ngày càng nhiều.

Một trong những thành tựu lớn nhất của việc nghiên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu về HCTK chính là việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp giáo dục và trị liệu cho trẻ em mắc chứng TK.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ