Chương I, Điều 3 đã phân loại các dạng khuyết tật bao gồm: ° Khuyết tật vận động e Khuyết tật trí tuệ e_ Khuyết tật nghe, nói e Khuyết tật nhìn e Khuyết tật thần kinh, tâm than e Khuyết tật khác. Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo tác giả hiểu là tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt. Khái niệm Người khuyết tật Trên thế giới và tại Việt Nam, có nhiều định nghĩa về người khuyết tật: Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ (ADA) năm 1990 định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thé chat hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kê đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006: người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội.
Theo Luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010 quy định: người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Khái niệm theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): người khuyết tat là những người mà triển vọng tìm được một việc làm thích hợp, cũng như triển vong tiễn bộ về mặt nghề nghiệp đều bị giảm sút một cách rõ rệt sau khi bị một trở ngại về thé chất hoặc tinh thần và trở ngại đó được công nhận đúng lúc. Khái niệm người khuyết tật theo tổ chức Y tế thế giới WHO năm 1999: người khuyết tật là những người có suy giảm chức năng ở các mức độ: khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật. Khiếm khuyết chỉ sự mat mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thé liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý.
Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Tàn tật đề cập đến tình thé bat lợi hoặc thiệt thoi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. 10 Về mức độ khuyết tật: Theo Điều 3, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật có 3 mức độ khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoan toan. Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mat một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát, hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
Người khuyết tật nhẹ là những người khuyết tật không thuộc trường hợp là người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng được nêu trên. Người khuyết tật không phân biệt nguồn gốc hay nguyên nhân gây ra khuyết tật, có những người sinh ra đã bị khuyết tật (được gọi là khuyết tật bam sinh), có những người khi sinh ra không bị khiếm khuyết nhưng trong quá trình sống, lao động và học tập có thé bị khuyết tật vì những nguyên nhân khác nhau. Như vậy, với khái niệm người khuyết tật, có nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi lựa chọn hiểu khái niệm người khuyết tật theo quy định của Luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010, cụ thé người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.
Khái niệm Trẻ khuyết tật Khoản 10, Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ khuyết tật nằm trong nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được định nghĩa như sau: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội dé được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng. Theo Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em: Trẻ khuyết tật là trẻ em dưới 16 tuổi không phân biệt nguồn sốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc 11 chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn. Từ những quan sát, tìm hiểu tài liệu của cá nhân, tôi xây dựng khái niệm trẻ khuyết tật là: “Trẻ em khuyết tật là người đưới 16 tuổi, bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm Công tác xã hội với người khuyết tật Có nhiều khái niệm về công tác xã hội được đưa ra ở các góc độ khác nhau.
Quan niệm của tác giả A.Skidmore cho rằng, công tác xã hội là một dạng trợ giúp giống như việc đưa ra bàn tay giúp đỡ cho những người nghèo khó, cá nhân, gia đình có khó khăn về kinh tế, về tình cảm, về quan hệ xã hội trong các cơ sở xã hội, y tế hay giáo dục. Công tác xã hội giúp cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ đảm bảo nhu cầu và đảm bảo an sinh xã hội. Từ điển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995) có ghi “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyền biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”. Tháng 7 năm 2011 Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc day sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống. Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: “Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm va cộng đồng giải quyết van đề. Công tác xã hội theo đuôi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”. Từ những khái niệm trên, tôi lựa chọn hiểu khái niệm công tác xã hội theo Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, Đại học Lao động — Xã hội, năm 2018 do tác giả Bùi Thị Xuân Mai chủ biên như sau: Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu câu và tăng cường chức năng xã hội đông thời thúc đây môi trường xã hội về 12 chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Căn cứ theo các khái niệm về người khuyết tật, trẻ em khuyết tật và khái niệm công tác xã hội, tôi hiểu khái niệm về công tác xã hội với người khuyết tật theo giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội do tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên: “Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết dé hỗ trợ người khuyết tật, gia đình và cộng đồng triển khai các hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả , vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội”. Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết nhu cau Thuyết nhu cầu là một thuyết được áp dụng rất phổ biến trong các trường hợp của công tác xã hội, được sáng tạo bởi nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow. Abraham Maslow (1908 - 1970), nhà tâm lý học người Mỹ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX.
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Nhu cau co ban liên quan đến các yếu tố thé lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ. Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thé thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được. Các nhu cầu cao hơn những nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tổ tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, dia vi xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân. Thuyết nhu cầu của Maslow phân định nhu cầu của con người theo 5 bậc thang: bậc thang thứ nhất là nhu cầu cơ bản/ sinh lý, thứ hai là nhu cầu về an toàn, thứ ba nhu cầu về xã hội, thứ tư đề cập đến nhu cầu được tôn trong/ tự trọng và cuối cùng, bậc thang thứ năm là nhu cầu được thể hiện mình.