CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CƠ SỞ THUC TIEN CUA DE TÀI 1. Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định, nhằm hỗ trợ cá nhân và những nhóm người trong việc giải quyết các van dé đời sống của họ, qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. Lịch sử công tác xã hội hiện đại được xem như bắt đầu cùng với cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu. Cùng với thời gian, công tác xã hội ngày càng phát triển và trở thành một ngành khoa học và một nghề chuyên môn có tính thực tiễn cao.
Phương pháp công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, phát triển cộng đồng, quản lý trường hợp, biện hộ. ngày càng hoan thiện. Các lĩnh vực khoa học chuyên ngành này được tổng kết từ những kinh nghiệm, kỹ năng làm việc thực tế của các chuyên gia và đưa vào dao tạo sinh viên chuyên ngành công tác xã hội chuyên nghiệp. Có thể nói, công tác xã hội ngày càng khăng định được vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội và được coi là một lĩnh vực khoa học độc lập.
Đối tượng quan tâm của công tác xã hội hiện đại rất đa dạng, đó có thể là nhóm các cá nhân yếu thế, các cộng đồng chưa phát triển hay các vấn đề xã hội như: mại dâm, ma tuý, HIV/AIDS.Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Công tác xã hội, có thé kế đến các định nghĩa sau về công tác xã hội: CTXH chuyên nghiệp thúc đây sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người va sự tăng quyên lực và giải phóng người dân nham giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dé chịu. Van dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công băng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề”. Năm 1970, Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Hoa Kỳ - NASW định nghĩa: "Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện 16 chức năng xã hội của họ và tạo ra những diéu kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy".
Một định nghĩa khác về Công tác xã hội được nêu trong "Foubndtion of Social Work Practice" - Cơ sở thực hành công tac xã hội: “Công tác xã hội la một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở độ phù hop trong xã hội. Công tac xã hội được coi nhự một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã được chứng mình. Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hoa". Định nghĩa Công tác xã hội của Philippin: “Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường vì nén an sinh của cá nhân và toàn xã hội".
Năm 2000, tai Dai hội Montreal , Liên đoàn Công tác xã hội Chuyên nghiệp Quốc tế (IFSW) đã phát triển định nghĩa công tác xã hội theo hướng tiếp cận mới: "Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc day việc giải quyết van dé trong mối quan hệ con người và tăng quyên lực, giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dé chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thong xã hội, Công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyên và công bằng xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề Công tác xã hội". Năm 2004, IFSW họp tạo Canada đã thảo luận và bồ sung định nghĩa như sau: "Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các van dé xã hội (van dé nay sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đông.
Công tác xã hội đã giúp con người phát triển đây đủ và hai hòa hơn, dem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”. Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tac xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết van dé liên quan tới moi quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyên và giải phóng quyên lực nham nâng cao chat 17 lượng sống của con người. CTXH sử dung các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống. Nhân viên CTXH là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về Công tác xã hội có bằng cấp chuyên môn.
Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng phân tích các van đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc song của cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội. Cán bộ CTXH chuyên nghiệp không chỉ biết hướng vào những nhóm cư dân yếu thế nhằm hỗ trợ, bảo vệ va tăng cường năng lực tự chủ của họ mà còn xây dựng những chương trình, giải pháp khoa học nhằm bảo vệ toàn xã hội, toàn thể dân cư. Do tính chất đặc thù của ngành nghề CTXH, đòi hỏi người cán bộ CTXH chuyên nghiệp phải là người biết kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực tiễn, thành thạo các phương pháp và kỹ năng chuyên môn. Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đây môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Hỗ trợ kiến thức Cho đến nay không có một định nghĩa chính thống nao cho cụm từ “hỗ trợ kiến thức”, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu về sự kết hợp ý nghĩa của hai từ này. Theo từ dién tiếng việt, “kiến thức” là điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập ma nên. Kiến thức hay còn gọi là tri thức, tiếng anh là “knowledge” bao gồm những dit kiện, thông tin, sự mô tả hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm thông qua hoạt động giáo dục. “Hỗ trợ kiến thức” là cách thức người chia sẻ với nhau, giúp đỡ nhau, giúp thêm vảo, hỗ trợ cho bạn bè, đồng đội về nội dung, dir kiện, thông tin, sự mô tả hay kỹ năng nhờ những trải nghiệm của các hoạt động khác nhau.
Việc hỗ trợ kiến 18 thức bao gồm các hoạt động liên quan đến học tập, cung cấp thông tin qua các tài liệu, vật dụng, truyền thông miệng, giảng dạy, trình dién. Gia đình Khái niệm gia đình xuất hiện từ rất sớm, nhìn chung, thuật ngữ được xac định “ là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ”. Trải qua quá trình hình thành từ lâu đời, gia đình được coi là một thiết chế văn hóa — xã hội đặc thù, một hình ảnh thu nhỏ cơ bản nhất của xã hội. Thông thường, gia đình là nhóm xã hội có từ 2 người trở lên, trong gia đình phải có giới tính nam nữ, có quan hệ ruột thịt, huyết thông, liên kết với nhau về đặc điểm tâm sinh lý, có ngân sách dùng chung và sống chung một nhà.
Việt Nam tôn tại nhiều kiểu gia đình khác nhau, bao gồm gia đình 02 thế hệ hoặc nhiều thế hệ, gia đình hạt nhân, gia đình đơn thân, gia đình đầy đủ. Sự biến đôi các hình thức gia đình bị xảy ra dưới tác động của của những chuyên biến xã hội nhưng cũng không tách rời những đặc trưng truyền thống mà vẫn kế thừa và thích nghỉ những điều kiện hoàn cảnh mới. Trong thời đại ngày nay, gia đình được coi là một vấn đề xã hội lớn, góp phan thúc đây sự phát triển bền vững của xã hội. Việc tổ chức gia đình tốt sẽ giúp hình thành nhân cách con người, tạo tiền dé quan trọng dé cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quốc gia trong quá trình phát triển nhiều chiều.
Gia đình là một thé chế có tính toàn cần, thé chế đó lại có hình thái khác nhau và thực hiện các chức năng một cách khác nhau. Một trong những chuyền biến khá rõ nét trong các gia đình trẻ ở Việt Nam hiện nay đó là mong muốn thé hiện sự bình dang trong gia đình, sự phân công lao động cũng có sự thay đổi, quyền quyết định đang dần chuyền sang cùng ban bạc. Mặc dù vậy, gia đình Việt Nam vẫn đang chịu ảnh hưởng của gia đình truyền thống, được hình thành và gan liền với xã hội nông thôn và chịu sự chi phối của tư tưởng Khổng giáo, gắn bó chặt chẽ với họ hang, làng xã, mang tính chất phụ quyền gia trưởng. Bạo lực gia đình Luật phòng chống bạo lực gia đình được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 21/11/2007 định nghĩa: “Bao lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên trong gia đình gây ton hại hoặc có khả năng gây ton hại về thể chát, tinh than, kinh tế, đối với thành viên khác trong gia đình.
Về mặt hình thức , có thê phân biệt bạo lực gia đình thành những hình thức chủ yêu là bạo lực thé chất , bạo lực tinh dục, bao lực tinh than, bao lực kinh tế. Về mức độ gây tôn hại có thé phân biệt bạo lực gia đình cực kỳ nghiêm trọng , nghiêm trọng và ít nghiêm trọng .