Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Bạo lực gia đình (BLGĐ) là vấn nạn của mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là BLGĐ đối với phụ nữ. Vấn đề này làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, thể chất, tinh thần của người phụ nữ đặc biệt nó làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng giới trong xã hội.
Trên thế giới, từ những năm 80 của thế kỷ XX, đã có nhiều nghiên cứu về BLGĐ đối với phụ nữ. Một số kết quả nghiên cứu nổi bật được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới trong thời gian từ năm 1994 đến đến 2005. Cụ thể theo báo cáo của Hesei (1994) về kết quả nghiên cứu từ 35 nước đã chứng minh rằng có khoảng từ 20 đến 50% phụ nữ các nước này bị chồng đánh đập. Tiếp đó là nghiên cứu điều tra dựa trên số dân ở 48 nước trên thế giới về các yếu tố nguy cơ về BLGĐ đối với phụ nữ chỉ ra từ 10 đến 69% phụ nữ cho biết họ đã trải qua một số bạo lực thân thể bởi một người bạn tình của họ trong đời.
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health and Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại phụ nữ). Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet, Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình họ và đây là vấn đề có tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Chi phí kinh tế cũng rất đáng quan tâm – một báo cáo năm 2003 của Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹ ước tính rằng chi phí cho những vụ bạo lực do người quen biết gây ra chỉ tính riêng ở Mỹ cũng đã lên đến 5,8 tỷ đô la mỗi năm; 4,1 tỷ cho các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ trực tiếp và 1,8 tỷ cho những thiệt hại về khả năng lao động [24]. 7 Năm 2006, Báo cáo “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” của cố Tổng thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Kofi Annan được trình bày tại Kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thể hiện rõ tình hình bạo lực với phụ nữ đang diễn ra ở 71 quốc gia thuộc phạm vi nghiên cứu.
Trong báo cáo, Tổng thư ký làm rõ các yếu tố và nguy cơ gây ra bạo lực với phụ nữ là việc sử dụng bạo lực để giải quyết xung đột; sự thờ ơ của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Những hoạt động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này chú trọng vào luật pháp, cung cấp dịch vụ và phòng ngừa. Tuy nhiên, thách thức đặt ra cho nhân loại không ít - thách thức do những nỗ lực khác nhau và những nguồn lực không tương xứng; thiếu hụt cách tiếp cận toàn diện và có lồng ghép; thiếu ngân quỹ; thiếu sự xử phạt; những hình thức phân biệt đối xử và thiếu việc đánh giá [27]. Nghiên cứu về “BLGĐ trong cộng đồng di cư Châu Á” của nhóm tác giả Lee, Yeon- Shim, Hadeed, Linda (2009) đã chỉ ra rằng: BLGĐ là một dịch bệnh nghiêm trọng giữa các cộng đồng người nhập cư châu Á.
Tuy nhiên, còn ít thông tin về phạm vi, tính chất, các yếu tố văn hóa và xã hội liên quan đến BLGĐ. Tác giả xem xét kỹ lưỡng một số lĩnh vực: bối cảnh gia đình; tỉ lệ BLGĐ; nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; những hậu quả sức khỏe tâm thần và thể chất; hỗ trợ xã hội; rào cản đối với việc sử dụng dịch vụ. Nghiên cứu đã làm rõ khá nhiều khía cạnh liên quan đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống BLGĐ xét về khía cạnh cá nhân và xã hội. Bài viết “Cách nhìn của phụ nữ về cách nhìn của nam giới” trong cuốn sách “Sự thống trị của nam giới” của tác giả Pierre Bourdieu (2010).
Ở đây, tác giả khẳng định rằng phụ nữ có một lòng tin đơn thuần về việc cần tuân thủ một cách vô điều kiện chồng mình. Họ thấy mình có sự lệ thuộc vào suy nghĩ của người chồng và như vậy mang lại cho họ một cảm giác an toàn hơn. Vì thế, họ có khuynh hướng ước lượng thành công của mình dựa theo thành công của chồng. Họ tin vào tình yêu số phận - đó là tình yêu đối với kẻ thống trị và sự thống trị của kẻ đó, vì thế mà từ bỏ ham muốn thống trị.
Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (2012) về “Bình đẳng giới và phát triển”, mức độ BLGĐ giữa các quốc gia có những khác biệt rất lớn và không có 8 quan hệ rõ ràng với thu nhập, trong khi bạo lực có xu hướng gia tăng cùng suy thoái kinh tế - xã hội, bạo lực không phân biệt ranh giới. Tại một số quốc gia như Braxin và Secbia có tới 25% phụ nữ bị bạn đời hoặc người thân bạo lực thể chất. Tại Peru, gần 50% phụ nữ là nạn nhân của bạo lực thể chất trong suốt cuộc đời. Theo báo cáo ở Etiopia, 54% phụ nữ bị người thân lạm dụng thân thể hoặc tình dục trong vòng 12 tháng qua [8].
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ đối với phụ nữ, tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chủ yếu chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa ra những giải pháp và chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về các phương pháp CTXH trong việc can thiệp, hỗ trợ phụ nữ bị BLGĐ, đặc biệt là phương pháp CTXH nhóm. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về thực trạng BLGĐ đối với phụ nữ: Nghiên cứu về thực trạng bình đẳng giới của tác giả Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh - Viện khoa học xã hội Việt Nam thực hiện năm 2005-2006 ở 13 tỉnh thành với 52 xã phường, số mẫu là 4.176 cá nhân đã thu thập những thông tin về các hành vi bạo lực giữa vợ và chồng, có khoảng 6% phụ nữ bị chồng đánh đập, 20% từng bị chồng chửi mắng. Một nghiên cứu khác được thực hiện tại 8 tỉnh của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội cho thấy số phụ nữ bị bạo lực thể chất ít hơn (chỉ vào khoảng 2%) song tỉ lệ bạo lực tinh thần cao hơn nhiều (chiếm 25%) và đặc biệt, số phụ nữ bị bạo lực tình dục chiếm tỉ lệ cao nhất (đạt 30%). Theo tác giả Lê Thị Quý, việc phụ nữ đồng thời bị cả bạo lực thể chất và bạo lực tình dục là phổ biến.
Bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục có xu hướng tiếp diễn trong nhiều năm hơn là bạo lực thể chất. So với phụ nữ thành thị thì phụ nữ nông thôn gánh chịu bạo lực thể chất với tỉ lệ cao hơn. Bên cạnh việc đánh giá mức độ BLGĐ theo trả lời của phụ nữ, một số tác giả đã tiếp cận nhóm nam giới - những người gây bạo lực để tìm hiểu thực trạng này. Nguyễn Đăng Tuyển tiến hành phỏng vấn 315 nam giới đã kết hôn tại thành phố 9 Hồ Chí Minh cho biết, có 47% nam giới có hành vi bạo lực vợ trong hiện tại và 68% có hành vi bạo lực vợ trước đây.
Nghiên cứu về nguyên nhân của BLGĐ: Có rất nhiều lý do có thể giải thích cho sự tồn tại và mức độ của BLGĐ. Nancy Luke và Nguyễn Đăng Vựng đồng quan điểm khi cho rằng: Có thể xem xét dựa trên hành vi cá nhân của người chồng hoặc do tác động bởi hành vi của chính phụ nữ là những yếu tố liên quan đến sự xuất hiện hành vi bạo lực. Phẩm chất và thái độ của người vợ và người chồng có ảnh hưởng đến BLGĐ. Nếu người chồng có tài và địa vị thua kém vợ thì anh ta dễ có hành vi bạo lực.
Đồng thời, mối liên quan giữa quan điểm giới của người chồng với hành vi bạo lực phụ thuộc vào quan điểm giới của người vợ. BLGĐ sẽ giảm thiểu nếu người chồng và người vợ đều có quan điểm bình đẳng giới. Ngoài ra còn kể đến trình độ học vấn của người vợ cao hơn chồng cũng là yếu tố nguy cơ cho hành vi bạo lực. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận yếu tố tâm lý xã hội, chẳng hạn như những chuẩn mực văn hóa truyền thống đã ủng hộ sự thống trị của người chồng đối với vợ, cho phép người chồng bạo lực vợ.
Quan niệm này được đông đảo tác giả nêu ra trong nghiên cứu của mình như: Vũ Mạnh Lợi, Lê Thị Phương Mai, Lê Thị Quý, nhóm nghiên cứu thuộc tổ chức UNFPA. Ngày nay, sự thay đổi của nền kinh tế - xã hội đã dần làm địa vị của người phụ nữ trong gia đình có ưu thế hơn. Quyền của người phụ nữ đã được pháp luật bảo vệ và phụ nữ có nhiều cơ hội tham gia vào lực lượng lao động hơn so với trước đây. Tuy nhiên, ảnh hưởng của gia đình truyền thống vẫn còn tồn tại.
Nam giới về cơ bản vẫn là người có quyền quyết định các việc lớn trong nhà. Phụ nữ vẫn chưa hẳn có nhiều cơ hội như nam giới, đặc biệt là phụ nữ nông thôn. Họ ít có cơ hội tiếp cận đến trình độ giáo dục như nam giới để tìm kiếm một nghề nghiệp tốt hơn. Do vậy, phụ nữ phải chấp nhận một vị thế thấp hơn nam giới.
Trong nghiên cứu năm 1999 ở 6 xã tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh với mẫu gồm 600 phụ nữ đã lập gia đình, tác giả Vũ Mạnh Lợi đã khẳng định: bạo lực thể chất xảy ra trong 16% các gia đình trong đó 10% là các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả và 25% các gia đình có kinh tế túng thiếu; bạo lực tình 10 dục xảy ra ở 18% các gia đình có kinh tế khá giả và 25% gia đình túng thiếu về kinh tế. Nghiên cứu về đấu tranh chống BLGĐ: Lê Thị Phương Mai và cộng sự trong Báo cáo “Ngăn chặn bạo hành trong gia đình” đã đánh giá nhận thức về bạo hành của người dân, cán bộ Hội Phụ nữ và tổ hòa giải.