MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đối với một quốc gia, an sinh xã hội được xem như thước đo để đánh giá mức độ phát triển và vị thế hội nhập. An sinh xã hội ổn định sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Với tư cách là một trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, Bảo hiểm xã hội thực sự đã trở thành công cụ đắc lực và hiệu quả hỗ trợ điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị trường, gắn kết giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển xã hội bền vững.
Ở nước ta hiện nay, chính sách BHXH là bộ phận quan trọng hệ thống an sinh xã hội. Công cuộc đổi mới đã và đang diễn ra trên khắp các lĩnh vực, vì vậy, chính sách bảo hiểm xã hội cũng đang từng bước được sửa đổi để phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội. Hiện nay, BHXH đã được áp dụng bắt buộc với đối tượng là công chức nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, có sử dụng nhiều tầng lớp lao động khác nhau. Đồng thời, cùng với xu thế phát triển chung, chính sách BHXH cũng đang có những thay đổi linh hoạt để đảm bảo an sinh xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân.
Bên cạnh BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện bắt đầu vào ngày 01/01/2008 góp phần vào việc đảm bảo và ổn định cuộc sống cho những người lao động tự do. Những lao động tự do khi về già, không còn khả năng lao động, khi đã tham gia BHXH tự nguyện sẽ nhận được chính sách Hưu trí và Tử tuất, giúp hỗ trợ kinh phí trong cuộc sống hàng ngày. Sau 11 năm triển khai, mặc dù công tác tuyên truyền về BHXH tự nguyện diễn ra thường xuyên và liên tục; số lượng người lao động tham gia có tăng qua các năm tuy nhiên vẫn còn hạn chế [8]. Theo ông Trần Định Liệu [8] – Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến hết tháng 10 năm 2018, có 60 triệu người trong độ tuổi lao động, nhưng chỉ có 251.000 người tham gia BHXH tự nguyện, trong khi đó, 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BHXH bắt buộc là 13,79 triệu người, bảo hiểm thất nghiệp là 11,6 triệu người, bảo hiểm y tế là 81,3 triệu người.
So với khoảng 35 triệu lao động khu vực phi chính thức, đối tượng chính của BHXH tự nguyện thì số người đang tham gia BHXH tự nguyện còn rất khiêm tốn. Đáng nói là, trong số những người tham gia BHXH tự nguyện có đến 60% đã tham gia BHXH bắt buộc trước đó nên đóng tiếp để đủ thời gian hưởng hưu trí. Điều này đồng nghĩa với khoảng 98% lao động phi chính thức nằm ngoài lưới an sinh xã hội(8).Trên thực tế, vẫn còn nhiều lao động tự do chưa biết đến BHXH tự nguyện và chưa nắm rõ thông tin về loại hình bảo hiểm này. Vẫn còn hàng nghìn người lao động thu nhập hiện tại ở mức thấp, không có lương hưu khi về già.
Vấn đề bất cập này gây áp lực lớn lên nền kinh tế đất nước và là gánh nặng đối với nềnan sinh xã hội của nước ta. Đến năm 2019, chính sách bảo biểm xã hội nói chung và chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng đã có nhiều cải cách, thay đổi và bổ sung. Huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là một trong những địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để nhận được chế độ an sinh tuổi già vì vậy số lượng người tham gia bảo hiểm có phần cao hơn so với các địa phương khác. Với chế độ hưởng Hưu trí và chế độ Tử tuất, bảo hiểm xã hội tự nguyện đã phần nào đáp ứng nhu cầu của người dân, bên cạnh đó cũng có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc nhiều lao động không quyết định tham gia BHXH tự nguyện.
Từ những lý do trên, qua quá trình nghiên cứu tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Hỗ trợ người lao động tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện” nhằm mục đíchhỗ trợ người lao động tại địa phương tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Tổng quan nghiên cứu. Sau đổi mới, sự phát triển toàn diện trên mọi mặt kinh tế - văn hóa – xã hội đã thúc đẩy yêu cầu trong việc thay đổi và nâng cao đời sống của người 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân, trong đó, vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm là an sinh xã hội. An sinh xã hội được hiểu là “sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”[22].
An sinh xã hội được thể hiện rõ nét và tiêu biểu trong chính sách về bảo hiểm xã hội. Mục đích của BHXH chính là tạo điểm tựa và niềm tin cho cá nhân, gia đình về mức sống và điều kiện sống nhằm phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời giúp đỡ cho cá nhân và gia đình có được sự tự điều chỉnh tốt nhất có thể được khi họ đối mặt với sự đau ốm, tàn tật và những hoàn cảnh khó khăn khác không thể ngăn ngừa được. Khi tham gia bảo hiểm xã hội, cá nhân sẽ được hưởng những dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế cần thiết và có được quyền lợi khi về già, không còn khả năng lao động. Chính vì vậy, BHXH ngoài việc mang đến cho cá nhân và gia đình những nguồn lợi trực tiếp còn khẳng định tính nhân văn sâu sắc khi tạo niềm tin về sự an toàn nhất định trong cuộc sống của mỗi cá nhân.
Đặc biệt, với những chính sách mới và mở cửa trong việc tham gia BHXH tự nguyện, có thể thấy được sự quan tâm trực tiếp và sâu rộng của các cấp đến toàn thể người dân. Khi những đối tượng là người lao động tự do, tầm nhận biết và cập nhật thông tin còn hạn chế, việc được tham gia BHXH cũng như một yêu cầu cấp thiết để cải thiện đời sống khi về già. Khi xét về mảng đề tài BHXHTN hay các đề tài liên quan đến vấn đề an sinh xã hội, đây thực sự là một lĩnh vực quan trọng và thu hút nhiều các ngành khoa học khác nhau cùng tham gia nghiên cứu như: Y học, Xã hội học, Luật học, Kinh tế học, Chính trị học. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu và phân tích chuyên sâu đã được thực hiện bởi các nhà hoạch định chính sách, nhà tư vấn, nhà nghiên cứu độc lập và từ phía Nhà 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước và khối phi chính phủ.
Mảng đề tài này nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu bởi lẽ: Chính sách an sinh xã hội nói chung và BHXHTN nói riêng có tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới chất lượng sống của người dân trong khu vực phi chính thức, đến ổn định và trật tự của xã hội. Những nghiên cứu của Việt Nam về thế giới. Dựa trên những đặc điểm về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phong tục và tập quán mà mỗi nước trên thế giới đều có những chủ trương, chính sách hay hoạt động thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội khác nhau. Vì vậy, tuỳ theo từng thời kỳ nhất định, mà các nước cũng sẽ có những chuyển đổi về hệ thống các chế độ thuộc chính sách bảo hiểm xã hội.
Dưới đây là những nét khái quát về chính sách bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới: Trích dẫn theo Nguyễn Văn Định, An sinh xã hội (2008) Liên Bang Đức là đất nước được ví như là cái nôi của bảo hiểm xã hội, là cội nguồn của sự hình thành và phát triển chính sách bảo hiểm xã hội sớm nhất trên thế giới. Tại Đức, hệ thống các chế độ của bảo hiểm xã hội được hình thành từ rất lâu đời, cụ thể là được thiết lập dưới thời của Thủ tướng Otto von Bismarck vào năm 1850 ngay truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Ngày 15/06/1883, nước Đức đã ban hành Luật bảo hiểm y tế cho công nhân, Luật bảo hiểm tai nạn vào ngày 06/07/1884, Luật về bảo hểm hưu trí và tàn tật ngày 22/06/1989 và Luật giới thiệu việc làm và bảo hiểm thất nghiệp ban hành vào ngày 16/07/1927 cho toàn bộ người dân, người lao động sinh sống tại đất nước. Trải qua các thời kỳ lịch sự, nước Đức không ngừng tiến bộ trong việc sửa đổi và hoàn chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội.
Đặc biệt, hệ thống các chế độ của bảo hiểm xã hội tại Cộng hoà Liên Bang Đức hiện nay được chia ra thành 5 trụ cột chính như sau: Bảo hiểm thất nghiệp; Bảo hiểm y tế theo luật định; Bảo hiểm chăm sóc điều dưỡng theo luật định; Bảo hiểm hưu trí theo luật định; Bảo hiểm tai nạn theo luật định. Và sau đó mô hình này đã nhanh chóng lan sang các nước Châu Âu[22]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Hồng Giang trong trong công trình nghiên cứu: “BHTN, lỡ cơ hội thay đổi” đăng trên SGTT vào ngày 01/12/2009 đã đề cập kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) về mô hình hỗn hợp bảo hiểm nhà nước và tư nhân được tổng kết rằng: “Ở các nước phát triển, bên cạnh hệ thống BHTN của nhà nước, khu vực tư nhân cũng cung cấp nhiều hình thức bảo hiểm thất nghiệp khác giành cho các đối tượng có thu nhập cao, tuy nhiên những NLĐ có mức lương thấp ít quan tâm đến bảo hiểm thất nghiệp”. Đối với người nghèo có mức thu nhập thấp, bảo hiểm thất nghiệp được xem là một dạng của ASXH.
Vì vậy, một số nước đã gộp chung loại hình bảo hiểm này vào Quỹ BHXH vào Quỹ ASXH, Nghiên cứu của WB về sự chuyển đổi này đã rút ra là, một mô hình hỗn hợp như của Úc, kết hợp thể thức quy định lợi tức từ một quỹ BHXH của Nhà nước, với quy định mức đóng góp dựa vào khu vực tư nhân, sẽ là tối ưu và dễ chuyển đổi.