LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do thực hiện nghiên cứu ứng dụng Hơn 70 năm qua, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu đáng ké trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Dé làm được điều đó, bên cạnh các chính sách chú trọng phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đời sống của nhân dân, đặc biệt trong việc cải cách và thực hiện các chính sách An sinh xã hội cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, góp phan ồn định về chính trị và kinh tế - xã hội. Là một đất nước chịu hậu qua nặng né của chiến tranh, bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu; đồng thời, đát nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn, chiếm hơn 20% dân số cả nước.
Trong đó có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5% hộ nghèo. Ngoài ra có khoảng 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm (do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa), 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, 204 nghìn người nghiện ma tuý, khoảng 30 nghìn nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; bên cạnh đó còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố [5] Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI nhắn mạnh nhiệm vụ và giải pháp về đảm bảo an sinh xã hội đối với việc trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: “Nang cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dan mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hop với khả năng ngân sách nhà nước. Xây dựng mức song toi thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc điện được hưởng trợ giúp xã hội. Tìiép tuc hoan thién chinh sach tro giúp xã hội.
Củng có, nâng cấp hệ thong cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đông, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triên khai các mô hình chăm sóc người cao tudi, trẻ mô côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão. Kế hoạch số 1910/KH-BHXH của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam hỗ trợ mua tặng thẻ bảo hiểm y tế cho người có hoàn cảnh khó khăn và giúp đỡ bệnh nhân nghèo năm 2019 đã nêu rõ mục đích, yêu cầu: “Huy động sự chung tay, chia sẻ của can bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Ngành Bảo hiểm xã hội và toàn xã hội hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn tham gia bảo hiểm y tế, giúp đỡ bệnh nhân nghèo. ”, đây là một trong những nghĩa cử cao đẹp thé hiện tinh than tương thân tương ái giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận được với dịch vụ khám chữa bệnh kip thoi. Có một thực tế là xã hội Việt Nam hiện nay đời sông nhân dân được nâng cao, nhưng chính sách bảo trợ xã hội vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế dẫn tới kết quả trợ giúp xã hội còn thiếu bền vững.
Mức hỗ trợ cho các đối tượng thụ hưởng còn thấp; ngoài ra còn một bộ phận những người có hoàn cảnh khó khăn chưa tiếp cận được các chính sách, dịch vụ trợ giúp xã hội; các nguồn lực thực hiện việc trợ giúp xã hội chưa được phủ rộng. Hiện nay nguồn lực chủ yếu còn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, chưa khuyết khích và thu hút được nhiều sự tham gia của các nguồn lực bên ngoài từ các cơ quan, don vi, tổ chức tư nhân. Bên cạnh đó trên thực tế có rất nhiều các hoạt động trợ giúp của tư nhân mang tính tự phát, thiếu chuyên nghiệp; nhiều đối tượng thụ hưởng chính sách còn y lại vào Nhà nước, chưa thực sự phát huy hết thế mạnh của bản thân nhằm cải thiện cuộc sống của chính mình. Bởi vậy, việc kết nối và huy động các nguồn lực xã hội cùng chung tay trợ giúp cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật, trẻ em nghèo.là việc quan trọng và có ý nghĩa, góp phan tạo sự ôn định kinh tế và thực hiện công bang xã hội.
Theo số liệu thống kê 06 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn phường Xuân Dinh có 233 đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng chính sách trợ giúp xã hội; 254 đối tượng là người có công với Cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng; 164 Người 2 cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên không hưởng lương hưu. Bên cạnh đó, trợ cap BHXH hưởng trợ cấp xã hội hang tháng; thực hiện chi trả kip thời cho hơn 600 lượt người là đối tượng chính sách. Mặc dù vẫn còn nhiều rào cản trong công tác triển khai và thực hiện nhiệm vụ trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn, phường Xuân Đỉnh luôn cố gắng quyết tâm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và Nhà nước; đặc biệt thực hiện tốt chương trình Mục tiêu Quốc Gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, ANQP đầu năm 2020 phường Xuân Đỉnh đã thực hiện tốt được chính sách giảm nghèo từ 40 hộ hộ (chiếm tỷ lệ 0.32%) năm 2019 xuống còn 04 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 0.
Đề thực hiện tốt được mục tiêu trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn thì vai trò của các nguồn lực tại mỗi địa phương là rất quan trọng, bên cạnh đó là vai trò của nhân viên CTXH chuyên nghiệp trong việc huy động nguồn lực nhằm hỗ trợ toàn diện các yếu tô thiếu hụt của đối tượng thụ hưởng nham trợ giúp phục hồi các chức năng xã hội là điều thiết thực nhất. Hiện tại, phường Xuân Đỉnh chưa có nhân viên CTXH chuyên nghiệp, thay vào đó người thực hiện chính sách trợ giúp chủ yếu là cán bộ phòng LDTB& XH. Việc triển khai hỗ trợ hộ nghẻo, hộ cận nghèo tiếp cận được chính sách hỗ trợ sản xuất, dạy nghé, tao viéc lam, tao sinh kế,.về co bản được thực hiện bởi Ban giảm nghèo và công cụ thực hiện chi dựa trên nguồn lực là chính sách của Nhà nước trên phương diện tác động và hỗ trợ thay đổi ở cấp độ cá nhân, do đó chưa thực sự phát huy hết tiềm năng nguồn lực xã hội trong việc trợ giúp hộ gia đình một cách toàn diện đảm bảo giảm nghèo bền vững. Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu ứng dụng: “Ứng dụng công tác xã hội nhóm huy động nguồn lực cộng đông hỗ trợ hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại phường Xuân Dinh, quận B.Từ Liêm, thành pho Ha Nội”.
Nội dung đề tài thể hiện hoạt động CTXH nhóm, đối tượng can thiệp trên nhóm nhiệm vụ; cụ thé nhóm này bao gồm những thành viên cốt cán là những cán bộ hoặc người đứng đâu đại diện của một bộ phận, một nhóm hoặc một tô chức của nguôn lực xã 3 hội đặc trưng. NVXH lúc này giữ vai trò điều phối nhóm, cô kết nhóm với mục dich thực hiện hoạt động huy động nguồn lực tại cộng đồng dé hỗ trợ nâng cấp điều kiện sống, hỗ trợ tạo sinh kế cho một hộ gia đình nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khan nhất trên địa bàn hiện nay. Trên cơ sở triển khai phương pháp ứng dụng CTXH nhóm vào việc hỗ trợ đối tượng là nhóm nhiệm vụ, nhân viên CTXH sẽ tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn của việc thực hiện phương pháp để đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp trên. Tổng quan dé tài nghiên cứu ứng dụng Trong quá trình tổng hợp thông tin, số liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu tác giả gặp một số khó khăn trong việc tìm kiếm các nghiên cứu, các báo cáo, các công trình khoa học trước đó liên quan đến hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bởi “hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” là một phạm vi nghiên cứu khá rộng.
Thay vào đó các tài liệu nghiên cứu thường tập trung vào các nhóm đối tượng khó khăn cụ thể như hộ nghẻo, hộ cận nghèo, gia đình có công với Cách mạng. với những chính sách phù hợp với nhóm đối tượng trên như: chính sách về xóa đói giảm nghèo, cho vay vốn, tạo việc làm, tạo dựng sinh kế, chăm sóc sức khỏe tinh than. Trong luận văn tác giả xin được khu trú phạm vi nghiên cứu ứng dụng ở nội dung hỗ trợ giảm nghèo cho đối tượng là hộ gia đình có hoàn cảnh ĐBKK là hộ gia đình nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều Quốc Gia, không có kha năng thoát nghèo. Việc đảm bảo an sinh xã hội cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn là van dé quan trọng trong quá trình xây dung va phát triển đất nước.
Đó cũng là một trong những chiến lược phát triển của mỗi Quốc Gia trên Thế giới. Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về công tác hỗ trợ và các chính sách an sinh xã hội dành cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là công tác xóa đói giảm nghèo. Trong phan tổng quan các van đề nghiên cứu, tác giả xin được trình bày các công trình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề cụ thể như sau: 2. Các nghiên cứu trợ giúp xã hội cho những gia đình nghèo thuộc nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Bộ lao động —Thuong binh và xã hội, cục Bảo trợ xã hội trong cuốn “Hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội ” đã tông hợp các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về An sinh xã hội tại Việt Nam; đặc biệt trong đó nêu rõ và hướng dẫn cụ thể về các chính sách hỗ trợ cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về các mặt: giáo dục, y tế, hỗ trợ nha ở, điện nước.Ngoài ra cuốn sách góp phần phố biến về pháp luật và là tài liệu quan trọng giúp cho người thực hiện sử dụng các chính sách trợ giúp xã hội được đúng mục đích, đúng đối tượng và đạt hiệu quả [6] Lê Bạch Dương và cộng sự đã nhận diện được nhu cầu trợ giúp xã hội và các van đề liên quan tới những nhóm người thiệt thoi tại Việt Nam: nghèo đói ở nông thôn, lao động di cư từ nông thôn ra đô thị, người khuyết tật và người có HIV/AIDS của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS).