CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI 1. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm “Công tác xã hội” Công tác xã hội đã và đang rất phát triển trên nhiều quốc gia khác nhau. Tại Việt Nam những năm gần đây Công tác xã hội bắt đầu được quan tâm nhiều hơn, biết đến nhiều hơn vì thế khái niệm Công tác xã hội là gì dần được chú ý.
Sau đây là một số khái niệm về công tác xã hội hiện nay: Theo Từ điển tiếng Việt "Công tác xã hội" được định nghĩa là một lĩnh vực hoạt động chuyên môn, trong đó các nhân viên được đào tạo để cung cấp hỗ trợ và dịch vụ cho cộng đồng, cá nhân hoặc gia đình gặp khó khăn về mặt xã hội, kinh tế, văn hóa hoặc tâm lý. Công tác xã hội nhấn mạnh vào việc giải quyết vấn đề xã hội và cung cấp giải pháp để cải thiện chất lượng cuộc sống của mọi người, đặc biệt là những người gặp khó khăn. Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống.
Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Theo Ủy ban Bác Ái xã hội - Caritas Việt Nam, CTXH là một chuyên ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng nhằm tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp 13 Thư viện ĐH Thăng Long nhằm đạt được những mục tiêu ấy (Theo Hiệp hội quốc gia các NVXH Mỹ-Nasw, 1970) CTXH nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của mình một cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người (1995). CTXH còn là một nghệ thuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, nhóm, cộng đồng. Mặc dù có nhiều quan điểm, nhiều định nghĩa về hoạt động công tác xã hội khác nhau nhưng tóm lại vai trò của hoạt động công tác xã hội rất quan trọng trong việc xây dựng cộng đồng mạnh mẽ và khả năng chịu đựng của xã hội trước những thách thức về kinh tế, sức khỏe, giáo dục và các vấn đề khác.
Nó tạo ra một môi trường xã hội công bằng hơn và tăng cường sự liên kết và đồng thuận trong cộng đồng. Đồng thời, hoạt động công tác xã hội cũng thể hiện cam kết đối với việc xây dựng một xã hội với những giá trị người và môi trường sống lành mạnh cho mọi người. Khái niệm “Công tác xã hội cá nhân” Theo They Farley và các tác giả khác (2000): công tác xã hội cá nhân là "Hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ "mặt đối mặt". Nhử vậy, công tác xã hội cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng (cá nhân hoặc gia đình) phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình.
Theo tác giả Grace Mathew (1992) đã nhấn mạnh công tác xã hội cá nhân hướng đến việc giúp đỡ con người giải quyết những khó khăn về chức năng xã hội của họ trên cơ sở mối quan hệ nghề nghiệp một - một. Theo tác giả "Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một-một. Công tác xã hội cá nhân được các nhân viên xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp đỡ những người có vấn đề về chức năng xã hội và thực hiện chức năng xã hội". Mối quan hệ một-một được tác giả nhắc đến trong khái niệm này là mối quan hệ giữa một (nhân viên xã hội) và một (đối tượng).
14 Tác giả Lê Chí Anh (2006): "Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn. Nó mang tính đặc thù, khoa học và nghệ thuật. Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng tư cũng như những vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường. Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết các vấn đề.
Lắng nghe, quan sát, vấp đàm và đánh giá là những công cụ chủ yếu của công tác xã hội cá nhân. Nhờ tính năng động của môi quan hệ trong công tác xã hội cá nhân mà cá nhân thân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình". Như vậy, có thể khái quát công tác xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình. Trong tiến trình này, nhân viên xã hội cần biết vận dụng nền tắng kiến thức khoa học tâm lý xã hội, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai.
Khái niệm “Ung thư phổi” Phổi là bộ phận quan trọng nhất của hệ hô hấp, cho phép chúng ta hít thở. Ung thư phổi là tình trạng tăng trưởng không kiểm soát của các tế bào bất thường ở một hoặc cả hai phổi, thường là các tế bào thuộc lớp niêm mạc của đường thở. Những tế bào bất thường này không phát triển thành mô phổi khỏe mạnh mà phân chia nhanh chóng và hình thành các u gây cản trở chức năng phổi. Ở Việt Nam, ung thư phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở cả hai giới.
Một số nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi cho người bệnh là hút thuốc lá, ô nhiễm môi trường, nghề nghiệp liên quan đến phóng xạ hoặc amiăng, yếu tố di truyền. Khoảng 25% ung thư phối không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ bằng chụp ngực. Các triệu chứng và dấu hiệu có thể là kết quả của sự tiến triển của khối u tại chỗ, lan tại vùng, hoặc các di căn xa. Hội chứng cận u và triệu chứng toàn thân có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh.
Mặc dù các triệu chứng không cụ thể đối với việc phân loại hoặc mô học của ung thư, một số biến chứng nhất định có thể xảy ra với nhiều loại khác nhau. 15 Thư viện ĐH Thăng Long Ung thư phổi được chia ra thành hai loại chính là ung thư phổi không tế bào nhỏ (khoảng 80%) và ung thư phổi tế bào nhỏ (khoảng 20%), trong đó ung thư phổi tế bào nhỏ tiến triển nhanh hơn. Ung thư phổi tế bảo nhỏ rất ác tính và hầu như luôn xuất hiện ở người hút thuốc lá, và khoảng 80% bệnh nhân có bệnh di căn vào thời điểm chẩn đoán. Tiên lượng đối với bệnh nhân ung thư tế bào nhỏ tổng thể là tồi.
Thời gian sống trung vị của người bệnh giai đoạn giới hạn là 20 tháng, tỷ lệ sống sót 5 năm là 20%. Bệnh nhân có giai đoạn lan rộng đặc biệt kém, với tỉ lệ sống sót 5 năm < 1%. Đối với ung thư không tế bào nhỏ, tỷ lệ sống sót tùy thuộc vào giai đoạn bệnh. Đối với bênh nhân mắc bệnh giai đoạn I, tỉ lệ sống 5 năm từ 60% đến 70%, đối với bệnh nhân mắc bệnh giai đoạn IV tỉ lệ này < 1%.
Trung bình, những bệnh nhân không điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn sống được 6 tháng. Khái niệm “Bệnh nhân ung thư phổi” Người bệnh ung thư là người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh được chẩn đoán bệnh lý ung thư, giảm sút sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần (tâm lý) và sức khỏe xã hội (các mối quan hệ xã hội). Họ thuộc nhóm đối tượng yếu thế, phải phụ thuộc vào bệnh viện và các nhân viên y tế, cần được trợ giúp các dịch vụ công tác xã hội. Khái niệm “Hoạt động CTXH cá nhân trợ giúp bệnh nhân ung thư phổi” Từ các khái niệm đã được phân tích ở trên tác giả đưa ra khái niệm công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ người bệnh ung thư phổi: "Những nhiệm vụ, hoạt động của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ người bệnh ung thư phổi là: tư vấn, hỗ trợ, vận động tiếp nhận tài trợ, nghiên cứu và đề xuất chính sách, hỗ trợ giải tỏa tâm lý cho người bệnh, người nhà người bệnh tại bệnh viện, giúp người bệnh nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và hỗ trợ người bệnh bằng các kiến thức, kỹ năng được đào tạo".
Trong đề tài này, tôi tập trung tư vấn, hỗ trợ tiếp nhận tài trợ và hỗ trợ giải tỏa tâm lý cho thân chủ. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 2. Thuyết nhu cầu Maslow Lý thuyết nhu cầu của Maslow, còn được gọi là "pyramid nhu cầu" của Maslow, mô tả nhu cầu của con người theo một hệ thống phân cấp. Maslow xếp hạng 16 các nhu cầu này từ cơ bản nhất đến cao nhất, tin rằng con người cần thỏa mãn nhu cầu cấp thấp trước khi chuyển sang đạt được nhu cầu cấp cao hơn.