Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TÙ VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ 1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT TÙ Trong lịch sử loài người, hình phạt luôn được coi là phương thức chủ yếu để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong cuộc đấu tranh với những hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải có những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, mà một trong những biện pháp cưỡng chế đó là hình phạt. Hình phạt được coi là một trong những công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.Mác nói: "Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội, chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó" [22, tr.
Trong pháp luật hình sự nước ta từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, khái niệm hình phạt chưa được ghi nhận một cách chính thức ở bất kỳ một văn bản pháp luật nào, chỉ đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 thì khái niệm hình phạt lần đầu tiên mới được quy định. Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được qui định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định" [29]. Có thể thấy luật hình sự nước ta đã tiếp thu, thấm nhuần sâu sắc tinh thần dân chủ và nhân đạo, tiến bộ, coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm và ngăn ngừa tội phạm.
Pháp luật hình sự nước ta không cho phép áp dụng hình phạt đối với những hành vi không phải là tội phạm, không được quy định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của các điều luật cụ thể. Đây là một đòi hỏi nghiêm khắc của nguyên tắc pháp chế. Khi một hành vi nguy 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểm cho xã hội được coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định những loại hình phạt và mức hình phạt tương xứng cho hành vi đó. Do đó, hình phạt cũng là một dấu hiệu để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi không phải là tội phạm.
Theo luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt bao gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Các hình phạt chính gồm có: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; các hình phạt bổ sung gồm có: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền, trục xuất (phạt tiền, trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính). Danh mục các hình phạt quy định tại Điều 28 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ (cảnh cáo) đến nặng (tử hình). Việc sắp xếp các hình phạt theo thứ tự như vậy có ý nghĩa to lớn về mặt nguyên tắc và thực tiễn.
Điều đó thể hiện ở chỗ căn cứ vào thứ tự sắp xếp như vậy, người ta hiểu được sự đánh giá chính thức của Nhà nước về tính chất nghiêm khắc của mỗi loại hình phạt và Tòa án có thể lựa chọn hình phạt nào khi giải quyết vấn đề chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Cách phân loại như vậy, về cơ bản là căn cứ vào vai trò, tính chất và nội dung của hình phạt. Đặc điểm của hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự nước ta là thể hiện tính đa dạng, cho phép trong mọi trường hợp thực hiện được các nguyên tắc của việc quyết định hình phạt. Hệ thống đó thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, không có những hình phạt nhằm khủng bố, trả thù, làm nhục hình, đầy đọa thân xác và chà đạp phẩm giá con người.
Danh mục các hình phạt trong luật hình sự được sửa đổi để phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm qua các thời kỳ phát triển nhất định của xã hội. Ngoài pháp luật, không có một ai có quyền thay đổi, bổ sung danh mục các hình phạt đó. Hình phạt tù nằm trong hình phạt chính, bao gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân và cũng được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng, có mức độ nghiêm khắc phù hợp với các thang bậc mức độ nghiêm trọng, nguy 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểm khác nhau của các loại tội phạm. Sự sắp xếp đó đảm bảo tính hệ thống.
Ngoài việc, hình phạt tù được quy định như vậy phản ánh sự đánh giá chính thức của Nhà nước về mức độ nặng nhẹ của từng loại hình phạt mà nó còn thể hiện mỗi loại hình phạt trong hình phạt tù có tính độc lập, khác biệt về cơ bản với nội dung của hình phạt khác, đủ để thực hiện mục đích của hình phạt là trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa, giáo dục chung. Hơn nữa tính hệ thống còn thể hiện ở chỗ, hình phạt tù chỉ có thể do pháp luật quy định và được Tòa án áp dụng. Yêu cầu này đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong thực tiễn xét xử - yêu cầu số một của tư pháp hình sự. Hình phạt tù và các loại hình phạt tương ứng về cơ bản với tội phạm, có khả năng thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm.
Hình phạt tù trong mối liên kết của cả hệ thống hình phạt cho phép lựa chọn loại hình phạt và mức độ xử phạt tương xứng với các hành vi phạm tội trong thực tế. Vì ý nghĩa đó mà các hình phạt tù được gọi là hình phạt chính. Nó luôn chứa đựng những yếu tố trừng trị và cải tạo vừa và đủ để hình phạt có thể đạt được mục đích khi nó được áp dụng đối với người phạm tội cụ thể. Hình phạt tù luôn được tuyên độc lập đối với mỗi loại tội phạm.
Trong số bảy hình phạt chính được quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 chỉ có 4 hình phạt được luật xác định về nội dung, trong đó có hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân. Đây là yếu tố thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt tù, dù rằng các dấu hiệu về nội dung cũng chưa đủ rõ và chưa toàn diện. Có thể đưa ra khái quát khái niệm về hình phạt tù như sau: Hình phạt tù là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong một môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hình phạt tù bao gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân.
Khi xác định mục đích của hình phạt tù, trước hết cần thấy rõ những chức năng của luật hình sự dưới hai góc độ: bảo vệ phòng ngừa xã hội và các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giá trị xã hội của luật hình sự. Và như vậy, khi xác định mục đích của hình phạt tù phải xác định kết quả cuối cùng mà nhà nước mong muốn đạt được khi quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với cá nhân người phạm tội để thực hiện chức năng của luật hình sự. Theo luật hình sự Việt Nam mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1999).
Như vậy, luật hình sự Việt Nam thừa nhận mục đích của hình phạt nhằm: trừng trị người phạm tội, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Trong khoa học luật hình sự, từ lâu đã có sự tranh luận về vấn đề: trừng trị có phải là mục đích của hình phạt hay không, hay là thuộc tính của hình phạt? Đa số các nhà luật học quan niệm mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới cũng như việc giáo dục phòng ngừa chung. Nhưng cũng có quan niệm cho rằng: Trừng trị là mục đích của hình phạt, bởi vì để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, bảo vệ sự công bằng xã hội thì không có lý do gì người có lỗi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm lại không bị trừng phạt. Theo chúng tôi, trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để thực hiện hình phạt.
Và vì vậy, trừng trị là nội dung quan trọng nhất của hình phạt. Nếu không có nó thì sẽ không có hình phạt. Trừng trị là tiền đề quan 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng cho việc đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm. Chính vì vậy trừng trị là nội dung không thể thiếu được của hình phạt mà khi quy định, hoặc xác định hiệu quả của một loại hình phạt nào đó yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá được khả năng trừng trị của nó.
Nội dung trừng trị để: giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc áp dụng hình phạt làm cho người phạm tội nhận thức rõ được những lỗi lầm, sai trái hành vi phạm tội của mình để cải tạo và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Hình phạt còn có mục đích ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới.
Đây là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt. Tuy nhiên việc phạm tội mới hay không phạm tội mới không phải là tiêu chí duy nhất trong việc đánh giá kết quả cải tạo của người phạm tội và hiệu quả của hình phạt, bởi lẽ nguyên nhân của việc tái phạm có thể rất khác nhau.