Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG CỘNG HƯỞNG PLASMON BỀ MẶT 1. Cộng hưởng plasmon bề mặt của các cấu trúc nano kim loại Các cấu trúc nano kim loại có tính chất quang nổi bật là hiệu ứng plasmon bề mặt. Đây là hiện tượng cộng hưởng điện từ do các dao động tập thể của các điện tử dẫn được gọi là plasmon, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các tính chất quang học của các cấu trúc nano kim loại và mối quan tâm lớn cho các thiết bị quang tử trong tương lai. Các mode plasmon tồn tại trong các kim loại khác nhau được ứng dụng nhiều nhất là trong các kim loại quý như vàng và bạc.
Các plasmon trong các cấu trúc nano kim loại hiện nay đã được khảo sát nghiên cứu bởi các kỹ thuật hiển vi trường gần và xa [2]. Hiệu ứng kích thước nội tại của các cấu trúc nano kim loại liên quan đến các thay đổi cụ thể trong các tính chất so với vật liệu khối và bề mặt của hạt. Thực nghiệm cho thấy kích thước hạt ảnh hưởng lên các tính chất cấu trúc và tính chất điện tử, cụ thể là thế ion hóa, năng lượng liên kết, phản ứng hóa học, cấu trúc tinh thể, nhiệt độ nóng chảy; và các tính chất quang của các cấu trúc nano kim loại phụ thuộc vào kích thước và hình dạng của chúng. Đối với các hạt kích thước nhỏ, các hàm quang học trở nên phụ thuộc vào kích thước, trong khi đối với các hạt lớn hơn, lý thuyết điện động lực học có thể được áp dụng bằng cách sử dụng các hằng số quang học của khối, liên quan đến hiệu ứng kích thước bên ngoài [1].
Khái niệm cộng hưởng Plasmon bề mặt Plasmon được hiểu là dao động tập thể của các điện tử tự do; còn plasmon bề mặt (surface plasmon - SP) là dao động của điện tử tự do ở bề mặt của kim loại với sự kích thích của ánh sáng tới. Thuật ngữ “cộng hưởng plasmon bề mặt” (surface plasmon resonance, SPR) là sự kích thích tập thể đồng thời của tất cả các điện tử “tự do” trong vùng dẫn tới một dao động đồng pha.Các plasmon bề mặt được tạo thành chính là các sóng điện từ bề mặt lan truyền dọc theo mặt phân cách của hai vật liệu với các hàm điện môi trái dấu, ví dụ như một kim loại và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn một điện môi. Thuật ngữ polariton Plasmon bề mặt (surface plasmon polariton - SPP) cũng được sử dụng với ý nghĩa tương tự như Plasmon bề mặt. SPP là sự kết hợp của các SP với photon ánh sáng tới, có thể lan truyền dọc theo bề mặt kim loại cho đến khi năng lượng của nó bị mất hết do sự hấp thụ bởi kim loại hoặc do sự bức xạ năng lượng vào không gian tự do.
Như vậy SP được hiểu là “các mode liên kết của trường điện từ của ánh sáng tới và các điện tử tự do trong kim loại”. Có thể hiểu hiện tượng này là hiện tượng ánh sáng hai chiều bị ràng buộc bởi một mặt phân cách kim loại - điện môi và có thể bị giam giữ theo các kích thước nhỏ hơn nhiều so với bước sóng của ánh sáng trong không gian tự do. Ví dụ xét sự tạo thành của dao động plasmon bề mặt đối với một hạt nano kim loại dạng cầu đặt trong môi trường điện môi (ví dụ trong chân không hoặc không khí) (hình 1. Điện trường của sóng ánh sáng tới tạo nên sự phân cực của các điện tử tự do đối với lõi ion của một hạt nano.
Sự chênh lệch điện tích thực tế ở các biên của hạt nano do đó sẽ hoạt động như lực hồi phục tạo ra một dao động lưỡng cực của các điện tử với một chu kỳ xác định [1, 2], do đó cộng hưởng plasmon bề mặt được tạo nên. Như vậy, nếu xét tại một mặt phân cách bất kỳ giữa hai vật liệu có hàm điện môi trái dấu, khi có sự kích thích của ánh sáng tới, các dao động của phân bố điện tích được tạo ra, tạo thành sóng plasmon bề mặt. Sự tạo thành plasmon bề mặt trên một hạt nano kim loại. Tần số plasmon và độ dài lan truyền của sóng plasmon theo lý thuyết điện từ học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Xét một mặt phân cách giữa hai vật liệu (hai môi trường) có hàm điện môi trái dấu, ví dụ như hai vật liệu kim loại và điện môi; đơn giản nhất xét bề mặt của một màng kim loại đặt trongkhông khí.
Khi có ánh sáng kích thích chiếu tới mặt phân cách sẽ gây nên một phân bố điện tích trên bề mặt kim loại. Dao động của phân bố điện tích này là sóng plasmon bề mặt truyền dọc theo biên phân cách kim loại - điện môi.2 minh họa sóng plasmon trên bề mặt của một màng kim loại. Lý thuyết điện từ học sẽ được áp dụng để giải bài toán sóng điện từ trên biên phân cách giữa hai môi trường. Giả sử mặt phân cách giữa hai môi trường có hàm điện môi là 1 và 2.
Điện trường của sóng điện từ lan truyền được biểu diễn bởi công thức: E E0e xp i k x x k z z ωt (1.1) trong đó k là số sóng và là tần số của ánh sáng tới. Minh họa các hình Hình 1. Plasmon bề mặt tại mặt phân cách giữa chiếu vectơ sóng của một sóng một kim loại và vật liệu điện môi có các điện tích tại mặt phân cách giữa hai môi kết hợp [1] trường Giải phương trình Maxwell cho sóng điện từ tại biên phân cách giữa hai vật liệu với hằng số điện môi là 1 và 2 với việc sử dụng các điều kiện biên liên tục của điện thế và vectơ điện dịch ta có [1]: k z1 k z2 (1.3) c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trong đó c là tốc độ ánh sáng trong chân không, kx là như nhau tại biên phân cách cho một sóng bề mặt. Các vectơ sóng trong 2 môi trường kz1 và kz2 được biểu diễn trên hình 1.
Từ hai phương trình (1.3) ta có mối quan hệ tán sắc cho một sóng lan truyền trên bề mặt là: 1/2 kx 1 2 kSP (1.4) c 1 2 Trong mô hình của khí điện tử tự do, bỏ qua sự suy giảm, hàm điện môi của kim loại được cho bởi [1]: ω2p ε ω = 1 - 2 (1.5) ω trong đó P là tần số plasmon của kim loại khối, có biểu thức trong đơn vị SI là: e 2 ωp = (1.6) 0 m* Với là mật độ điện tích, e là điện tích của điện tử, m* là khối lượng hiệu dụng của điện tử và 0 là hằng số điện môi trong chân không. Đường cong tán sắc của tần số plasmon bề mặt được biểu diễn trên hình 1. Đường cong tán sắc của các plasmon bề mặt. Ở giá trị k thấp, đường cong tán sắc của các plasmon trùng với đường tán sắc của photon [1] Từ đây có thể thấy, ở giá trị các vectơ sóng nhỏ, các SPP thể hiện giống như các photon, nhưng khi k tăng, đường cong tán sắc bị uốn cong và đạt tới một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn giới hạn tiệm cận tới tần số plasmon của kim loại khối.
Tần số plasmon được cho bởi: SP P / 1 2 (1.7) Trong trường hợp môi trường điện môi là không khí trên bề mặt kim loại, ta có: SP P / 2 (1.8) Như vậy, với cùng một tần số, giá trị vectơ sóng của plasmon kSP lớn hơn so với giá trị vectơ sóng của photon tự do. Do sự chênh lệch vectơ sóng này, sóng plasmon chỉ lan truyền trên bề mặt phân cách giữa hai môi trường. Để sóng plasmon có thể lan truyền ra trường xa qua biên phân cách, các nghiên cứu chỉ ra phải có sự phù hợp vectơ sóng giữa plasmon và photon tự do của ánh sáng tới. Xét mặt phân cách giữa kim loại (1) và điện môi (2) ta có 2 là thực và 2> 0 và ε1< 0 (là điều kiện kim loại thỏa mãn).
Sóng điện từ đi qua kim loại sẽ bị suy hao do các mất mát ohmic và các tương tác giữa điện tử và lõi ion. Hàm điện môi của kim loại được biểu diễn theo biểu thức [1]: ε1 εr iεi (1.9) trong đó r là phần thực và i là phần ảo. Nói chung |r| >>|i|, biểu thức của số sóng tại mặt phân cách của các plasmon được biểu diễn như sau [16]: 1/2 3/2 k x kx ikx r 2 i r 2 i (1.10) c r 2 c r 2 2 r2 Năng lượng của một sóng SPP lan truyền dọc theo một bề mặt kim loại, sẽ bị mất mát do sự hấp thụ của kim loại hoặc bị bức xạ vào không gian tự do. Tại một khoảng cách x, cường độ sóng plasmon giảm theo hệ số exp[-2kx"x].
Độ dài lan truyền plasmon được định nghĩa là khoảng cách mà sóng plasmon có cường độ giảm đi e lần, được cho bởi công thức: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.11) 2kx Tương tự như vậy, điện trường giảm một cách nhanh chóng theo chiều vuông góc với bề mặt kim loại. Ở các tần số thấp, sự xâm nhập của SPP vào kim loại gần đúng với công thức độ xuyên sâu của một trường vào kim loại. Trong môi trường điện môi, trường sẽ giảm chậm hơn nhiều. Độ xuyên sâu của trường plasmon vào kim loại m và điện môi d được biểu diễn theo các công thức [1]: 1/2 λ δm r (1.13) 2π 2 Độ xuyên sâu của trường plasmon vào kim loại và điện môi được biểu diễn trên đồ thị hình 1.
Minh họa độ xuyên sâu của trường plasmon vào kim loại và điện môi [2] 1. Lý thuyết Mie Lý thuyết Mie được đưa ra trước tiên để giải thích màu tán xạ của các hạt nano kim loại dạng keo. Các hạt nano kim loại dạng keo là các hạt nano kim loại có các phân tử trên bề mặt hạt (các ligands) với các nhóm chức thích hợp giúp chúng phân tán được trong dung dịch. Trái với bề mặt kim loại liên tục, các hạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.