Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này trình bày những nét khái quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu, phương pháp thực hiện và ý nghĩa của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Ở chương này cung cấp những khái niệm cơ bản về SEO, trong đó bao gồm lý thuyết định thời điểm thị trường để phát hành cổ phiếu.
Đồng thời trong chương này cũng điểm qua những kết quả chính của những bài nghiên cứu trước đây về các vấn đề liên quan đến hiệu ứng lan tỏa thông tin và phát hành cổ phần thêm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3 trình bày cách lấy dữ liệu, cách thức xây dựng các biến để phục vụ cho các kiểm định trên chương trình Sata12. Chương 4: Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam.
Từ số liệu ở Chương 3, chương này sẽ đưa ra kết quả trong quá trình phân tích số liệu. Chương 5: Kết luận. Chương 5 sẽ tóm tắt lại kết quả và những hàm ý, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết SEO (Seasoned equity offerings): Là hình thức chào bán cổ phần thêm nhằm mục đích huy động vốn bởi các công ty đại chúng đang niêm yết.
Việc chào bán cổ phần này có thể bán cho các cổ đông hiện hữu, cổ đông mới hoặc cả hai. Trong phát hành cổ phần thêm gồm hai đợt phát hành chính là phát hành cổ phiếu sơ cấp và phát hành cổ phiếu thứ cấp. Sau khi IPO, công ty có thể có nhu cầu cần tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển hay một số mục đích khác, các đợt phát hành tiếp theo sau để tài trợ vốn đó được gọi là SEO. Có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng, các nhà quản lý của công ty sẽ phát hành cổ phiếu khi cổ phần bị định giá cao hơn giá thị trường nhằm tối đa hóa lợi ích công ty.
Trong phần này tác giả sẽ trình bày về lý thuyết định thời điểm thị trường trong việc phát hành cổ phiếu. Hiệu ứng lan tỏa thông tin: Hiệu ứng lan tỏa thông tin xảy ra khi một công ty công bố thông tin về một sự kiện, có thể liên quan đến phát hành cổ phần hoặc mua lại cổ phần…Thông tin này không chỉ tác động lên chính công ty công bố sự kiện mà còn gây ra tác động tích cực hoặc tiêu cực đến giá trị của các công ty khác. Lý thuyết định thời điểm thị trường Lý thuyết định thời điểm thị trường cho rằng các doanh nghiệp có xu hướng phát hành cổ phiếu mới khi giá cổ phiếu đang cao và mua lại cổ phiếu khi giá thị trường của cổ phiếu xuống thấp. Những giả định nhận xét về vấn đề này đơn giản chỉ là những nhà quản trị tin rằng họ có thể gia nhập thị trường đúng lúc để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp của họ và họ thực sự đang cố gắng làm điều đó.
Phần lớn các nhà quản trị tài chính đang cố gắng để tham gia vào thị trường cổ phiếu đúng lúc, và họ sẽ mua lại hay phát hành cổ phiếu thường phụ thuộc vào giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 trị của cổ phiếu doanh nghiệp bị định dưới giá hoặc định giá quá cao so với giá trị thị trường của cổ phiếu đó.Và đây là vấn đề quan trọng để xem xét trong quyết định tài chính.2 Các nghiên cứu liên quan đến hiệu ứng lan tỏa thông tin và phát hành cổ phần thêm 2.1 Các nghiên cứu về hiệu ứng lan tỏa thông tin và phát hành cổ phần thêm cho kết quả tác động tiêu cực lên hiệu quả của công ty phát hành hoặc công ty đối thủ Myers và Majluf (1984) trong nghiên cứu “Corporate financing and investment decisions when firms have information that investors do not have” nghiên cứu về tác động của công bố thông tin lên phản ứng giá cổ phiếu. Bài nghiên cứu cho thấy sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản trị công ty và nhà đầu tư. Nhà quản trị công ty nắm được những thông tin mà nhà đầu tư trên thị trường không có và cả nhà đầu tư và nhà quản trị đều biết rõ điều này. Nhà đầu tư nhận ra được khi công ty phát hành cổ phần cho thấy dấu hiệu công ty đang được định giá cao hơn giá trị thị trường.
Vì vậy các nhà đầu tư có xu hướng bán ra cổ phiếu đang nắm giữ và phản ứng này gây ra tác động tiêu cực lên TSSL trong thời kỳ công bố thông tin. Masulis và Korwar (1986) trong nghiên cứu “Seasoned equity offerings: an empirical investigation” nghiên cứu xem xét tác động của việc thông báo phát hành cổ phần bổ sung. Tác giả nghiên cứu cả đợt phát hành sơ cấp và thứ cấp, cả cổ phiếu và trái phiếu. Tác giả thu thập các thông báo phát hành cổ phần từ các báo cáo được đăng trên Wall Street Journal Index và the Investment Dealer’s Digest trong giai đoạn từ 1963 đến 1980.
Tác giả cũng loại các thông báo của các công ty tài chính và bảo hiểm ra khỏi mẫu. TSSL của chứng khoán hàng ngày được thu thập từ dữ liệu CRSP. Qua bài nghiên cứu cho thấy giá cổ phiếu giảm một cách có ý nghĩa khi công ty thông báo phát hành cổ phần, bao gồm cả phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 bằng chứng cho thấy thông tin chứa đựng trong các thông báo phát hành cổ phần bổ sung có tác động đến giá cổ phiếu mạnh hơn đối với các công ty trong ngành công nghiệp hơn là các công ty tiện ích.
Lý giải cho điều này có liên quan đến số lần phát hành thường xuyên của các công ty tiện ích. Ngoài ra tác giả còn cho thấy TSSL của cổ phiếu xung quanh ngày thông báo phát hành cổ phần thì có tương quan dương với tỷ lệ đòn bẩy của công ty. Asquith và Mullins (1986) trong nghiên cứu “Equity issues and offering dilution” nghiên cứu tác động của thông báo phát hành cổ phần lên giá chứng khoán trong giai đoạn từ 1963 đến 1981. Tác giả đã thu thập dữ liệu bao gồm 266 thông báo phát hành cổ phần từ năm 1963 đến năm 1981.
Các thông báo được tác giả lấy từ các báo cáo đăng trên tạp chí the Wall Street Journal. Các dữ liệu TSSL hàng ngày của chứng khoán được lấy từ CRSP. Qua bài nghiên cứu cho thấy giá chứng khoán giảm một cách có ý nghĩa thống kê khoảng 2-3% xung quanh ngày thông báo phát hành cổ phần bổ sung. Đối với vấn đề ngành, kết quả hồi quy chỉ ra rằng giá chứng khoán xung quanh ngày thông báo phát hành cổ phần giảm có ý nghĩa thống kê và tương quan ngược chiều với khối lượng cổ phần phát hành.
Kết quả của sự thay đổi giá chứng khoán này không được giải thích theo sự thay đổi trong cấu trúc vốn mà được giải thích theo lý thuyết cho rằng khi công ty thông báo phát hành cổ phần đưa đến tín hiệu tiêu cực cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cho rằng cổ phiếu bị định giá cao và làm giảm nhu cầu mua cổ phiếu của họ. Lucas và McDonald (1990) trong nghiên cứu “Equity issues and stock price dynamics” nghiên cứu về quyết định phát hành cổ phần thêm dựa vào mô hình “Infinite horizon”. Bài nghiên cứu cũng đưa ra lý thuyết thời điểm thị trường để dẫn đến phát hành cổ phần.
Nội dung chính của lý thuyết thời điểm thị trường cho rằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 công ty sẽ phát hành cổ phần khi giá cổ phiếu đang tăng, có thể giá cổ phiếu của doanh nghiệp bị định giá cao trước khi công ty có thông báo SEO. Tóm lại bài nghiên cứu này trình bày về lý thuyết thông tin, mô hình Infinite horizon của việc quyết định phát hành cổ phần. Mô hình này dự báo về hành vi giá cổ phiếu và giải thích về thời điểm phát hành cổ phiếu liên quan đến sự kiện thông báo phát hành cổ phần. Nghiên cứu của tác giả đưa đến các kết luận.
Thứ nhất, việc phát hành cổ phần trung bình sẽ gia tăng khi TSSL bất thường cổ phiếu tăng, mặc dù có sự khác nhau khi xem xét đến các doanh nghiệp khác nhau. Thứ hai, việc phát hành cổ phần gia tăng khi TSSL bất thường gia tăng trong thị trường. Thứ ba, giá cổ phiếu sẽ giảm xuống có ý nghĩa thống kê khi có thông báo phát hành cổ phần. Trong mô hình của tác giả, giá của cổ phiếu giảm xuống tại thời điểm phát hành cổ phần liên quan đến việc chi phí để đầu tư hiệu quả vì thông tin bất cân xứng, và lợi ích giảm xuống ít thậm chí giá giảm nhiều.
Slovin và cộng sự (1992) trong nghiên cứu “Informational externalities of seasoned equity issues” đã thực hiện nghiên cứu xem xét các tác động đến giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại hay ngân hàng đầu tư khi một ngân hàng khác đưa ra thông báo về việc phát hành cổ phần. Để so sánh kết quả nghiên cứu với các doanh nghiệp, tác giả cũng thực hiện nghiên cứu tương tự để xem tác động lên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp đối thủ khi một doanh nghiệp thông báo phát hành cổ phần. Mô hình lý thuyết của tác giả dùng để dự đoán ngoại tác thông tin chứa đựng trong danh mục nợ của ngân hàng, kết hợp với cấu trúc của các quy định ngân hàng bao gồm ngoại tác thông tin trong ngành ngân hàng. Qua nghiên cứu của tác giả cho thấy việc một ngân hàng thông báo phát hành cổ phần đưa ra một tín hiệu về triển vọng ngành của các ngân hàng đối thủ.
Tuy nhiên điều này không đúng với các doanh nghiệp cùng ngành khi một doanh nghiệp thông báo phát hành cổ phần. Các kết quả này ngụ ý chính sách về vai trò và tác động của quy định ngân hàng. Để thực hiện kiểm định về tác động của thông báo phát hành cổ phần trên tác giả chọn cơ sở dữ liệu về thông báo phát hành cổ phần của ngân hàng từ năm 1975 đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 1988, và của doanh nghiệp từ năm 1980 đến 1985. Đối với ngày phát hành chứng khoán, t=0 là ngày đầu tiên thông báo phát hành cổ phần được đăng trên tạp chí the Wall Street Journal.
Ngày đăng ký phát hành được lấy từ dữ liệu của Registered Offerings of Securities (ROS). Dữ liệu giá chứng khoán hàng ngày được lấy từ dữ liệu của trung tâm Center for Research in Securities Prices (CRSP).