phần mở đầu và phần kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, thì luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Việt Thanh VnC Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Việt Thanh VnC 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh Khái niệm về vốn đƣợc nghiên cứu và đƣợc hình thành gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế thị trƣờng hàng hoá. Vốn là một yếu tố trong những quan trọng cơ bản có ý nghĩa quyết định quá trình sản xuất và lƣu thông kinh doanh hàng hoá.
Sẽ không doanh nghiệp nào có thể phát triển trên thị trƣờng muốn tồn tại nếu thiếu vốn. Với tầm quan trọng nhƣ vậy, việc nghiên cứu vốn phải bắt đầu từ những quan điểm về vốn của các nhà kinh tế học và một số cách nhìn nhận khác nhau về vốn. Quan điểm của Kark Marx (1994) định nghĩa về vốn dƣới góc độ các yếu tố sản suất “Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất. Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn.
Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác. Quan điểm của Adam.Smith (1776) về vốn đƣợc thể hiện trong cuốn “The wealth of nations “Vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.”[9] + Vốn cố định là tiền vốn đƣợc sử dụng để cải tạo đất đai mua các máy móc và các công cụ cần thiết để thu đƣợc lợi tức mà không phải thay đổi chủ sở hữu, không phải tiến hành các hoạt động lƣu thông.
+ Vốn lƣu động là vốn có thể đƣợc sử dụng để chế tạo sản xuất hoặc mua hàng hoá rồi lại bán đi với một sô tiền lãi nào đó. 5 Vốn dùng theo cách nói trên không mang lại lợi tức và lợi nhuận cho ngƣời sử dụng, trong khi vốn vẫn thuộc quyền ngƣời sỡ hữu của ngƣời đó hay là lợi tức dƣới dạng ngƣời vay. Hàng hoá của ngƣời bán chỉ mang lại cho ngƣời đó lợi tức hay là lợi nhuận sau khi bán hết hàng hoá và sử dụng số tiền bán đƣợc đó để đổi lấy hàng hoá khác, ngƣời đó sẽ hƣởng phần chênh lệch giữu mua và bán. Vậy tiền vốn của ngƣời bán tiếp tục chuyển từ dạng này sang dạng khác, thông qua sự lƣu thông hay sự trao đổi trực tiếp ngƣời lái buôn đó kiếm đƣợc lợi nhuận.
Loại tiền đƣợc sử dụng nhƣ vậy gọi là vốn lƣu động. Trong nền kinh tế hiện đại toàn cầu hóa, có thể hiểu rằng: “ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản hữu hình và vô hình được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” [5] Một số quan niệm về vốn ở trên tiếp cận dƣới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Vì vây, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và quản lý vốn trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, có thể khái quát vốn là một phần thu nhập quốc dân dƣới dạng vật chất và tài sản chính đƣợc các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Trong phạm vi bài viết, tác giả sử dụng khái niệm về vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo quan niệm của những nhà kinh tế học hiện đại trên.
Đặc trưng của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có những đặc trƣng sau: [7] Thứ nhất, vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp, do đó nó biểu hiện cho một lƣợng tài sản nhất định của DN: điều này nghĩa là vốn đƣợc biểu hiện bằng các TSCĐ gồm tài sản hữu hình và vô hình: đất đai và nhà xƣởng, các thiết bị-máy móc, hay thƣơng hiệu, các phát minh sáng chế hoặc uy tín tồn tại của doanh nghiệp…Vì vậy khi tham gia vào SXKD thì giá trị của chúng không những không bị mất mà còn thu hồi đƣợc sau mỗi kỳ nghiên cứu sản xuất kinh doanh. 6 Thứ hai, vốn có đặc trƣng là giá trị về mặt thời gian, vì ở các thời điểm khác nhau sức mua của đồng tiền là khác nhau. Khi bỏ ra một đồng vốn hiện tại có thể mang giá trị nhỏ hơn hoặc lớn hơn vào ngày tƣơng lai vì giá trị của tiền chịu rủi ro rất nhiều cho doanh nghiệp nhƣ: lạm phát tăng, giá cả và lãi suất biến động, tình hình kinh tế chính trị và xã hội….Đối với các doanh nghiệp, đây là một đặc điểm quan trọng cần phải đặc biệt xem xét khi tiến hành lựa chọn các phƣơng án đầu tƣ. Thứ ba, vốn sản xuất luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định.
Đặc trƣng vốn này cho thấy sử dụng hiệu quả vốn. Ngƣời có quyền quyết định sử dụng vốn nhƣ thế nào là ngƣời sở hữu vốn, để có thể làm sao hiệu quả để mang lại mức lợi cao nhất. Không thể có chuyện đồng vốn vô chủ đƣợc vì nếu có những đồng vốn vô chủ nhƣ vậy thì chắc chắn sẽ dùng lãng phí tham ô không hiệu quả. Cần phải phân biệt hai thuật ngữ có quan hệ chặt chẽ ở doanh nghiệp, đó là quyền sử dụng vốn & quyền sở hữu, nhất là trong các tập đoàn Nhà nƣớc.
Tuỳ theo những cách tiến hành đầu tƣ khác nhau, ngƣời sử dụng vốn và ngƣời sở hữu vốn có thể là 2 ngƣời hoặc là 1 đồng nhất. Song về nguyên tắc ngƣời sở hữu vốn sẽ đƣợc ƣu tiên hơn đƣợc bảo đảm về quyền lợi sở hữu đồng vốn của mình. Nắm đƣợc yếu tố này là quan trọng sẽ giúp doanh nghiệp có biện pháp tốt hơn để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn. Thứ tƣ, vốn cần phải đƣợc tập trung tích tụ và muốn phát huy đƣợc tác dụng chỉ khi đến một lƣợng nhất định thì mới tiến hành đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh.
Để doanh nghiệp có thể tiến hành sẽ cần có một lƣợng vốn kinh doanh đủ lớn để đầu tƣ những yếu tố cần thiết cho kế hoạch SXKD trong tƣơng lai. Muốn vậy điều đó, doanh nghiệp không những phải nghiên cứu các tiềm năng tích cực về vốn của chính mình mà còn phải tìm cách thu hút vốn và huy động từ nhiều kênh nhƣ: góp vốn liên kết, liên doanh, phát hành cổ phiếu trái phiếu, đầu tƣ vào các dự án khác… Thứ năm, vốn phải vận động nhằm mục đích sinh lời và đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là khi doanh nghiệp bỏ 1 đồng vốn 7 ra ban đầu, trải qua các hình thái khác nhau biến đổi và sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh nó quay trở về trạng thái nhƣ lúc ban đầu nhƣng với mang giá trị lớn hơn. Đặc trƣng này là rất quan trọng vì nó cho biết vai trò quan trọng của vốn.
Quá trình kinh doanh sản xuất diễn ra liên tục của doanh nghiệp làm cho vốn cũng không ngừng vận động tạo ra sự chu chuyển và tuần hoàn của vốn. Phân loại vốn kinh doanh Có nhiều tiêu thức để phân loại vốn kinh doanh, tuy nhiên theo quan điểm của những nhà kinh tế hiện đại, vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc phân loại dựa theo đặc điểm chu chuyển của vốn kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, tạo thành một chu kỳ khép kín, do vậy vốn kinh doanh trong doanh nghiệp cũng vận động không ngừng. Quá trình vận động liên tục của vốn từ hình thái này sang hình thái khác và để rồi trở về trạng thái ban đầu của vốn đƣợc gọi là sự tuần hoàn vốn kinh doanh.
Trong quá trình chu chuyển vốn, các bộ phận của vốn chuyển dịch giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo những cách thức khác nhau. Căn cứ vào phƣơng thức chu chuyển khác nhau về mặt giá trị của vốn sản xuất kinh doanh ngƣời ta chia thành vốn cố định và vốn lƣu động. Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển giá trị, có thể phân chia vốn thành hai loại: vốn cố định và vốn lƣu động. Đây là hai dạng cơ bản và quan trọng của vốn trong doanh nghiệp nên chúng sẽ đƣợc nghiên cứu kỹ ở phần sau.1 Vốn cố định * Khái niệm tài sản cố định Theo thông tƣ số 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 04 năm 2013 của Bộ Tài chính [1] và thông tƣ số 28/2017/TT-BTC ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Bộ Tài chính [2] quy định về tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định nhƣ sau: Tài sản cố đinh là những tư liệu lao động có thời gian sử dụng trên 1 năm, có nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30.000 đồng trở lên, chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.
8 Tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình: là những tƣ liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhƣng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhƣ nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải. Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lƣợng giá trị đã đƣợc đầu tƣ thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, nhƣ một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả. * Khái niệm và đặc điểm của vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tƣ ứng trƣớc về tài sản cố định.