Chương 1. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Kết quả thảo luận. Kết luận và kiến nghị.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về sản xuất Sản xuất là quá trình, thông qua nó, các nguồn lực hoặc đầu vào sản xuất được sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể sử dụng được. Các yếu tố đầu vào trong sản xuất nông nghiệp là đất, lao động, phân bón, thuốc nông dược, v.v… Các yếu tố đầu ra trong sản xuất nông nghiệp là các sản phẩm mà quá trình sản xuất tạo ra. Hàm sản xuất Hàm sản xuất là một hàm số biểu diễn về mặt toán học của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của một quá trình sản xuất.
Thông thường được viết dưới dạng: Y = f (x1, x2, x3, x4, ……, xn) Trong đó: Y là sản lượng đầu ra và xi= (1, 2, 3….n) là các yếu tố đầu vào. Các biến trong hàm sản xuất được giả định là dương, liên tục và các yếu tố đầu vào được xem là có thể thay thế cho nhau tại mỗi mức sản lượng. Hàm sản xuất cho biết mức sản lượng tối đa được tạo ra ứng với mỗi phương án kết hợp các yếu tố đầu vào cho trước. Các yếu tố đầu vào bao gồm các yếu tố cố định (là những yếu tố được nông dân sử dụng một lượng cố định và nó không ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: chi phí máy tưới, chi phí máy bơm nước, …) và các yếu tố biến đổi (là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: giống, lao động, phân bón, thuốc nông dược,…) Tuy có nhiều dạng hàm sản xuất được ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệm nhưng dạng hàm Cobb-Douglas được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp.
Các ông Cobb và Douglas thấy rằng logarithm của sản lượng Y và của các yếu tố đầu vào xi thường quan hệ theo dạng tuyến tính. Do vậy hàm sản xuất được viết dưới dạng: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 lnY = lnβ0 + β1lnX1 + β2lnX2 + …+ βklnXk Trong đó: Y và xi (i = 1, 2, …., k) lần lượt là các lượng đầu ra đầu vào của quá trình sản xuất. Hằng số β0 có thể được gọi là tổng năng suất nhân tố, biểu diễn tác động của các yếu tố nằm ngoài những yếu tố đầu vào có trong hàm sản xuất. Những yếu tố này có thể là sự tiến bộ công nghệ, sự hiệu quả.
Với cùng lượng đầu vào x i, β0 càng lớn sản lượng tối đa có thể đạt được sẽ càng lớn. Các khái niệm hiệu quả Theo Coelli, T. Theo Ông và cộng sự, Hiệu quả kỹ thuật là đo lường khả năng của một công ty, xí nghiệp sử dụng các kỹ thuật hiện có một cách tốt nhất hay là việc sử dụng lượng đầu vào cho trước để tạo ra một sản lượng cao nhất hay sử dụng một lượng đầu vào nhỏ nhất để tạo ra một lượng đầu ra nhất định (0 ≤ TE ≤ 1). Hiệu quả phân phối nguồn lực là phản ánh khả năng của một công ty, xí nghiệp sử dụng tỷ lệ các đầu vào tối ưu tương ứng với giá cả và công nghệ sản xuất.
Hiệu quả kinh tế là hiệu quả tổng hợp giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối (EE = TE x AE). Các loại hiệu quả này có thể được đo lường bằng phương pháp phân tích DEA. Phân tích TE để đo lường khả năng của một nông hộ sản xuất tối đa với lượng đầu vào và công nghệ cho trước. Phân tích AE đo lường khả năng của nông hộ sử dụng các yếu tố đầu vào tối ưu với giá cả đầu vào và sản lượng đầu ra không đổi và phân tích EE dự.
trên kết quả của TE và AE cho thấy hiệu quả kinh tế của nông hộ. Một số khái niệm khác có liên quan Chi phí cơ hội: Là phần lợi nhuận bị mất đi khi nhà đầu tư lựa chọn dự án này mà không chọn dự án kia (nếu là hai dự án); trong trường hợp nhiều hơn hai dự án thì chi phí cơ hội là phần lợi nhuận bị mất đi của dự án có khả năng sinh lợi cao gần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhất so với dự án mà nhà đầu tư đã lựa chọn. Chi phí cơ hội không thể hiện cụ thể bằng tiền, do đó không được ghi chép vào sổ sách kế toán. Chi phí kinh tế: Là chi phí bao gồm cả chi phí kế toán (chi phí tài chính) và chi phí cơ hội.
Hiệu quả kỹ thuật: Là việc sử dụng yếu tố nguồn lực đầu vào ít nhất để tạo ra một lượng sản phẩm là cao nhất. Hiệu quả kỹ thuật được xem là một phần của hiệu quả kinh tế. Nông hộ: Là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là một đơn vị hoạt động của nền kinh tế xã hội, sử dụng các nguồn lực nông hộ để tiến hành các hoạt động sản suất có hiệu quả kinh tế, phù hợp với điều kiện xã hội và không tác động đến sinh thái và môi trường. Tối đa hoá lợi nhuận: Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí của tất cả các nguồn lực để sản xuất.
Trên lý thuyết để đạt được lợi nhuận tối đa khi và chỉ khi chi phí biên bằng với doanh thu biên. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT Phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA - Data Envelopment Approach) đã được sử dụng rộng rải trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Trong lĩnh vực thủy sản, gần đây nhất vào năm 2010, Nguyễn Phú Son đã áp dụng DEA để ước lượng hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất Artemia ở Sóc Trăng và Bạc Liêu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả qui mô đạt được của những hộ này rất cao (0,95 và 0,91).
Kết quả phân tích hồi qui tương quan cho thấy kinh nghiệm sản xuất có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹ thuật với mức ý nghĩa 1% trong khi việc thiếu vốn sản xuất và sự không sẳn có của phân chuồng có ảnh hưởng tiêu cực đối với hiệu quả kỹ thuật ở mức ý nghĩa 5% và 10% tương ứng. Nghiên cứu này cũng cho thấy việc tiếp cận được hay không với các tổ chức tín dụng tại địa phương không gây ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi Artemia. Trong lĩnh vực rau màu cũng có nhiều tác giả sử dụng DEA để ước lượng hiệu quả sản xuất của các hộ nông dân tham gia sản xuất. Theo một nghiên cứu gần đây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 của Đoàn Hoài Nhân (2010) về việc “Đánh giá hiệu quả sản xuất nấm rơm ở An Giang”.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy đa số các hộ sản xuất nằm trong mẫu điều tra đều đạt được hiệu quả khá cao về mặt kỹ thuật (TE = 0,85), tuy nhiên việc sử dụng hiệu quả và hợp lý các yếu tố nhập lượng với giá cả và kỹ thuật sẵn có còn hạn chế nên đã làm hạn chế hiệu quả phân phối (AE = 0,31) và vì thế gián tiếp làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế (EE = 0,28). Có hai yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp một cách tích cực và có ý nghĩa đến hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất nấm rơm, bao gồm: (1) số năm kinh nghiệm sản xuất của người sản xuất nấm rơm và (2) tiếp cận thông tin thị trường. Trong khi đó thì yếu tố tiếp cận được hay không với các tổ chức tín dụng không có ảnh hưởng ý nghĩa đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ chất nấm. Liên quan đến việc sử dụng DEA để ước lượng hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi cá tra ở An Giang, năm 2009 Bùi Lê Thái Hạnh đã sử dụng phương pháp này để xác định hiệu quả kỹ thuật đạt được của các hộ nuôi trong năm 2008.
Và kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật dưới giả thuyết thu nhập qui mô không đổi là 0,595, với giả thuyết thu nhập qui mô thay đổi thì hiệu quả kỹ thuật là 1, và hiệu quả qui mô là 0,58. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng kinh nghiệm sản xuất và mức độ đầu tư có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹ thuật. Nguyễn Văn Tiển và Phạm Lê Thông (2014) “Phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng sen trên địa bản tỉnh Đồng Tháp”. Từ dữ liệu thu thập của 120 hộ trồng sen ở tỉnh Đồng Tháp, tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng khả năng cao nhất (MLE) để ước lượng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế từ hàm sản xuất và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên.
Kết quả cho thấy mức hiệu quả kỹ thuật trung bình đạt được ở vụ 1 là 86,81% và ở vụ 2 là 85,33%. Việc kém hiệu quả do chưa đạt được hiệu quả kỹ thuật tối đa làm mất đi trung bình ở vụ 1 là khoảng 1.280 kg/ha và trong vụ 2 khoảng 1. Mức hiệu quả kinh tế đạt được ở vụ 1 là 82,18%, còn ở vụ 2 là 82,99%. Và do mức kém hiệu quả do chưa đạt được hiệu quả kinh tế gây thất thoát trung bình khoảng 5.665 ngàn đồng/ha ở vụ 1 và vụ 2 mất khoảng 13.891 ngàn đồng/ha.
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sen của 2 vụ là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 lượng giống, lượng phân đạm, phân kali, phân lân thuốc bảo vệ thực vật và lao động gia đình. Ngoài ra tác giả còn dùng mô hình hồi qui tuyến tính để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hộ trồng sen ở tỉnh Đồng Tháp, kết quả cho thấy các yếu tố có tác động gồm vốn vay, trình độ học vấn và diện tích gieo trồng sen của nông hộ. Tiên Hoàng Huy (2014)“Phân tích hiệu quả sản xuất mía của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang”. Từ dữ liệu khảo sat của 130 hộ trồng mía ở tỉnh Hậu Giang thông qua phương pháp DEA, bài nghiên cứu cho thấy được hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối nguồn lực, hiệu quả sử dụng chi phí của các nông hộ trồng mía tỉnh Hậu Giang.
Kết quả từ DEA cho thấy, các hiệu quả đạt mức tương đối, chưa đạt kết quả cao, thêm vào việc phân tích hiệu quả theo quy mô cho thấy được các nông hộ sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, không tập trung, cụ thể trung bình hiệu quả kỹ thuật đạt khoảng 82,5%, hiệu quả phân phối khoảng 71,1%, hiệu quả sử dụng chi phí khoảng 57,9% và hiệu quả theo quy mô khoảng 89,5%.