Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC HỘ NGHỀ CHÈ TRONG CÁC LÀNG NGHỀ CHÈ 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế của các hộ nghề chè trong các làng nghề chè 1. Lý luận về làng nghề và làng nghề chè 1. Khái niệm làng nghề và làng nghề chè Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam, làng nghề thường gắn với các nghề thủ công truyền thống và một số làng nghề đáp ứng yêu cầu là ngành nghề nông thôn tại Nghị định 52/2018/NĐ-CP về Phát triển ngành nghề nông thôn.
Trong đó, tại Điều 3 của Nghị định, quy định “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này”. Điều 4 Các hoạt động ngành nghề nông thôn, bao gồm: (1) Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; (2) Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; (3) Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; (4) Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; (5) Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; (6) Sản xuất muối; (7) Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn. Và sản xuất, chế biến chè là ngành nghề Chế biến, bảo quản nông sản. Đồng thời, làng nghề và làng có nghề muốn được công nhận là làng nghề thì phải đáp ứng quy định tại Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [2].
quy định nội dung và các tiêu chí công nhận làng nghề và làng nghề truyền thống. Tiêu chí công nhận là làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hai năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Khái niệm làng nghề Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôm, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Khái niệm làng nghề chè Theo Vũ Quỳnh Nam (2017), Làng nghề chè là một làng (xóm) hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn với đặc trưng đa số cư dân trong làng cùng thực hiện một hoạt động nghề sản xuất và chế biến sản phẩm chè đáp ứng các điều kiện: Có tối thiểu 30% tổng số hộ hoặc số lao động tham gia vào sản xuất và kinh doanh sản phẩm chè; Hoạt động sản xuất kinh doanh chè ổn định tối thiểu 2 năm; Và chấp hành các chính sách của chính quyền địa phương. Làng nghề chè truyền thống là làng nghề chè được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là nơi có nhiều hộ tham gia hoạt động nghề chè lâu đời với một hoặc nhiều các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nghề. Đặc điểm của làng nghề chè Làng nghề chè hiện nay còn khá mới mẻ trong danh mục các làng nghề Việt.
Do quan điểm của nhiều người sản xuất và chế biến chè là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP quy định về ngành nghề nông thôn [2]. và Thông tư 116/TT-BNN&PTNT [1]. về tiêu chuẩn làng nghề thì hoạt động sản xuất và chế biến chè là hoạt động ngành nghề nông thôn (sản xuất và chế biến nông sản) là hoạt động nghề.
Đặc điểm làng chè nhìn chung cũng mang dáng dấp đặc điểm làng nghề Việt Nam và có một số đặc điểm riêng của sản phẩm chè như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 i) Điều kiện sản xuất kinh doanh có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp và nông thôn Làng nghề chè bắt nguồn từ các vùng trồng chè và gắn liền với hoạt động sản xuất và chế biến chè. Tại các làng nghề chè, sản xuất nông nghiệp và sản xuất nghề đan xen lẫn nhau, các hộ không chỉ sản xuất và chế biến chè mà còn làm công việc trồng trọt, trồng lúa nước, lâm nghiệp hay chăn nuôi. Ngoài thời gian làm nghề nhiều gia đình làm thêm nhiều việc để tăng thu nhập: nghề thợ mộc, thợ nề hoặc thợ sơn,. ii) Đặc điểm về lao động Lao động làng nghề chè có đặc điểm chung của lao động làng nghề Việt Nam như: Lao động thủ công, hầu hết là lao động địa phương, thu hút được nhiều lao động tham gia nghề và hao phí lao động sống chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm, đào tạo nghề thường người thợ phải vừa học, vừa làm và học nghề theo hình thức “cha truyền con nối”.
Tuy nhiên, lao động nghề chè có đặc điểm riêng biệt là lao động chủ yếu là lao động nữ. Do phần lớn quan điểm của người dân, các công đoạn làm chè từ làm cỏ, hái chè, sao sấy chè đòi hỏi sự tỉ mỉ, cần cù, khóe léo phù hợp với nữ giới, nam giới chủ yếu làm những công đoạn nặng nhọc, nguy hiểm như phun thuốc trừ sâu, đốt lò. Đặc điểm sản xuất chè chủ yếu vẫn theo mùa vụ, vào vụ chính để đảm bảo chất lượng chè khi thu hái đúng đợt, phần lớn là đổi công giữa các hộ gia đình trong cùng một làng với nhau, tuy nhiên, một số hộ vẫn thuê lao động, có thể lao động trong làng hoặc lao động tại vùng lân cận. Đây là điểm khác biệt giữa lao động làng nghề chè và lao động tại các làng nghề khác.
iii) Nguồn nguyên liệu Nguồn nguyên liệu của làng nghề chè là chè búp tươi. Đặc điểm của chè búp tươi thu hái xong phải để nơi râm mát, bỏ trong sọt không nén chặt, không đựng trong bao kín, không để héo và chậm nhất không quá 4 giờ phải đưa đến cơ sở chế biến. Do vậy, sản phẩm của làng nghề chè là những nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 liệu tại chỗ, nguồn nguyên liệu này phần lớn là do các hộ nghề tự sản xuất ra. Trong khi, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, quy trình chăm sóc vườn chè mỗi vùng, mỗi hộ lại không giống nhau.
Vì vậy, chất lượng nguồn nguyên liệu không đồng đều giữa các hộ. iv) Đặc điểm về sản phẩm Sản phẩm làng nghề chè mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, chủ yếu phục vụ nhu cầu ẩm thực truyền thống. Sản phẩm nghề chè là sự kết tinh nghệ thuật chế biến của các nghệ nhân nghề, tạo nên giá trị chất lượng sản phẩm riêng biệt của mỗi hộ nghề, mỗi làng nghề. Do vậy, mỗi hộ nghề, mỗi làng nghề chè có hương vị đặc trưng khác nhau mà những người thưởng thức “sành” mới cảm nhận được.
Sản phẩm chè phục vụ cho tiếp khách. Chén chè là đầu câu chuyện “Trà ngon phải có bạn hiền”. Chất lượng chè thể hiện sự thành kính và lòng hiếu khách của chủ nhà dành cho khách quý. Vì vậy, chè - sản phẩm mang tính chất văn hóa, tinh thần rất đậm đà, sâu sắc.
Sản phẩm nghề chè là sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, được mua bán, trao đổi với sản lượng lớn trên thị trường trong nước và quốc tế, đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho đất nước, cũng như cho người dân ở các làng nghề. v) Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm chè tại các làng nghề là sản phẩm chè xanh đặc sản, thị trường tiêu thụ chủ yếu trong nước thông qua thương lái hoặc bán tại các chợ truyền thống tại địa phương và một phần cho xuất khẩu thông qua doanh nghiệp (DN) sản xuất và kinh doanh chè hoặc Hợp tác xã (HTX) chè. Giá cả sản phẩm chè lên xuống theo vụ, chính vụ được mùa thì mất giá và không chính vụ thì giá bán cao hơn. Do vậy, giá cả và thị trường sản phẩm chè thường không ổn định, phụ thuộc vào mùa vụ và phụ thuộc vào tư thương.
vi) Đặc điểm về hình thức tổ chức kinh doanh Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề chè phần lớn là hộ gia đình, ngoài ra các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác như: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Tổ hợp tác, HTX nghề, và các loại hình DN sản xuất và kinh doanh sản phẩm chè đóng trên địa bàn. Các hình thức này cùng tồn tại và có tác động hỗ trợ nhau trong điều kiện mới của nền kinh tế thị trường. vii) Đặc điểm về công nghệ Nhìn chung công nghệ, kỹ thuật sản xuất của làng nghề chè còn khá lạc hậu, quá trình sản xuất thủ công. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nghề, nhiều hộ dân trong các làng nghề chè đã ứng dụng công nghệ hiện đại vào một số công đoạn làm chè như: máy sao chè cải tiến, máy xào gas, máy ủ hương, máy hút chân không,.
kết hợp với kỹ thuật thủ công. Sự kết hợp này đã đem lại ưu thế đặc biệt quan trọng: tạo ra năng suất lao động cao hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh, đồng thời làm giảm nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm cho người lao động… 1. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của làng nghề chè Hiệp hội làng nghề là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, đây là hội thành viên, được thành lập bởi nhà nước (ở các tỉnh là UBND tỉnh), nhận kinh phí hoạt động một phần từ nhà nước, một phần do các hội viên đóng góp và triển khai các hoạt động của nhà nước, vì một mục đích chung và nhằm bảo vệ quyền lợi lẫn nhau giữa các hội viên trong Hiệp hội. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của làng nghề chè như sau: * Đối với Ủy ban nhân dân Tỉnh - UBND Tỉnh là cơ quan quản lý làng nghề (LN) cấp tỉnh, căn cứ vào Nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND Tỉnh, phê duyệt Đề án phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè và phát triển làng nghề chè của tỉnh.
- Thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về quản lý làng nghề, do 1 Phó Chủ tịch làm trưởng ban.