CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỔ TIẾT KIỆM VÀ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ TỔ TIẾT KIỆM VÀ VAY VỐN 1. Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng chính sách xã hội 1. Khái niệm Trên thế giới, nhiều quốc gia có ngân hàng thực hiện các chính sách của chính phủ.
Các chính sách hỗ trợ tín dụng được thực hiện theo những mô hình tổ chức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Có những nước thông qua ngân hàng thương mại hoặc các quỹ, các tổ chức tài chính vi mô, nhưng cũng có những nước thành lập những ngân hàng riêng để thực hiện mục đích này, như: Rabobank của Hà Lan, Grameen Bank của Băng-la-đét, Banco Popular do Brasil của Bra-xin, Bank Rakjat của In-đô-nê-xia, Savings Bank của Thái Lan, Nayoby Bank của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Trong xu thế phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, ở mỗi quốc gia đều nảy sinh tình trạng có những ngành hàng, những khu vực kinh tế, những đối tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện tiếp cận với dịch vụ của các NHTM. Ví dụ, các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, vùng sâu, vùng xa địa hình khó khăn hiểm trở, bị chia cắt, điều kiện khí hậu tự nhiên khắc nghiệt…, chịu chi phí lớn, rủi ro cao, hơn nữa đòi hỏi vốn đầu tư lớn thời gian dài, lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận.
Tuy nhiên, những ngành hàng, những khu vực kinh tế và những đối tượng khách hàng này không thể bị “bỏ rơi”, nó phải có sự hỗ trợ của Chính phủ để tồn tại và phát triển bởi tính xã hội của nó: nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế cân bằng giữa các vùng, miền, giữa các thành phần, đảm bảo sự chênh lệch giàu nghèo không quá lớn và nhằm giải quyết các mục tiêu chính trị - xã hội. Để giảm thiểu những mặt trái khuyết tật của cơ chế thị trường và giải quyết các 11 mục tiêu nêu trên, Chính phủ đã sử dụng nhiều công cụ trong đó có công cụ tín dụng chính sách. Như vậy, tín dụng chính sách là các khoản vay ưu đãi theo chỉ định của Chính phủ. Đây là việc cho vay có tính chất phi thương mại đối với các hoạt động bán tài chính không đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện tiêu chí thương mại, nhưng lại có tác động xã hội chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.
Tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi quốc gia, Chính phủ thiết lập các kênh tín dụng hoặc thiết lập các Ngân hàng chuyên biệt để: - Cho vay các khu vực kinh tế ưu tiên; - Cho vay các ngành kinh tế có tính chất chiến lược; - Cho vay các công trình có tính khả thi về tài chính nhưng đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài (công trình cơ sở hạ tầng, đường xá…); - Cho vay xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn và các khu vực xã hội. Các ngân hàng được thiết lập để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ được gọi là Ngân hàng Chính sách. Ngân hàng Chính sách được chia làm 2 loại: - Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách phát triển được gọi là Ngân hàng Phát triển. - Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội được gọi là Ngân hàng chính sách xã hội.
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chung nhất về ngân hàng CSXH: Ngân hàng chính sách xã hội là loại hình Ngân hàng chuyên biệt được các Chính phủ thiết lập nhằm cung cấp các khoản cho vay ưu đãi đối với các đối tượng khách hàng, ngành nghề, khu vực kinh tế được đặc biệt quan tâm. Đặc trưng của Ngân hàng chính sách xã hội a) Về mô hình tổ chức NHCSXH được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng phục vụ 12 người nghèo. NHCSXH có bộ máy quản lývà điều hành thống nhất trong cả nước, với vốn điều lệ ban đầu là 5000 tỷ đồng, thời hạn hoạt động là 99 năm, không vì mục đích lợi nhuận mà phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Bộ máy quản lý NHCSXH: Hội đồng quản trị tại Trung ương, 64 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện.
b) Về mục tiêu hoạt động Khách hàng của NHCSXH phần lớn là những đối tượng hầu như không thể tiếp cận được với vốn tín dụng thông thường của các NHTM. Chính vì lẽ đó, NHCSXH thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà giá trị hướng tới là “Vì hạnh phúc của người nghèo, vì an sinh xã hội” Mục tiêu quan trọng nhất của NHSXH là tập trung các nguồn lực của Nhà nước thực hiện tín dụng chính sách xã hội, tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn thoát nghèo bền vững, góp phần cải thiện đời sống nhân dân gắn và xây dựng nông thôn mới. c) Về đối tượng vay vốn Đối tượng vay vốn của NHCSXH là người nghèo, các đối tượng chính sách khác theo quy định của Chính phủ và các đối tượng được các tổ chức, cá nhân ủy thác cho NHCSXH cho vay. Đây là những khách hàng rất ít có các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM; là các khách hàng dễ bị tổn thương, cần có sự hỗ trợ tài chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên tự cải thiện điều kiện sống của chính họ.
d) Về nguồn vốn và sử dụng vốn Trong khi hoạt động đặc trưng của các ngân hàng thương mại là “đi vay để cho vay”, hay nói cách khác là đi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế thì nguồn vốn của NHCSXH lại được tạo lập chủ yếu từ Ngân sách Nhà nước như: cấp vốn Điều lệ, nguồn vốn ODA dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ, nguồn vốn của Chính phủ vay; nguồn vốn NHCSXH huy động trên thị trường theo kế hoạch cấp bù từ ngân sách 13 nhà nước. Xuất phát từ đặc thù về đối tượng khách hàng vay vốn thường là những đối tượng dễ bị tổn thương, gặp khó khăn, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM… nên NHCSXH cũng có những đặc thù về sử dụng vốn như: - Món vay nhỏ lẻ chi phí quản lý cao. - Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro cao, chẳng hạn các hộ gia đình nghèo thiếu vốn sản xuất, chủ yếu sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi môi trường thiên nhiên bị tàn phá, thường xuyên xảy ra bão lụt, hạn hán. Mặc khác, bản thân họ dân trí thấp, thiếu kiến thức làm ăn, trong sản xuất kinh doanh dễ bị thua lỗ.
- Thực thi các chính sách cho vay có ưu đãi như: ưu đãi về các điều kiện vay vốn, ưu đãi về lãi suất cho vay… 1. Vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội NHCSXH là một tổ chức tín dụng chuyên biệt thực hiện cho vay theo các chính sách của Nhà nước, vì vậy NHCSXH đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xã hội: Thứ nhất, là công cụ để Nhà nước thực hiện các chương trình tín dụng chính sách. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì khoảng cách giàu nghèo càng lớn, do đó mỗi quốc gia cần phải có chính sách hợp lý để quan tâm và bảo đảm cho vấn đề con người, an sinh xã hội cho người nghèo, vùng nghèo … Với mục đích hướng sự giúp đỡ đến các đối tượ.g, khu vực trên, NHCSXH đã góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh. Điều này được thể hiện qua việc: - Đối với các đối tượng chính sách: Đã tạo ra một kênh tín dụng được sử dụng một cách hiệu quả cho những đối tượng, khu vực chính sách hơn các loại hình cấp phát vốn hỗ trợ khác do: + Việc chuyển tải vốn được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả nên nguồn vốn được người sử dụng vốn tính toán hiệu quả; vốn được sử dụng quay vòng nhiều lần, giúp nhiều người được hưởng lợi từ nguốn tín dụng ưu đãi này.
Mặt 14 khác, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo ra thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ. + Vốn cho vay giúp người vay vốn khắc phục tư tưởng tự ti, ỷ lại, tự nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của mình tạo tiền đề hòa nhập sản xuất hàng hóa. Từng bước giúp người dân nghèo tự vươn lên, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, giảm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. - Đối với khu vực khó khăn, những ngành nghề, những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công cộng mà bản thân hoạt động đó không có lãi nhưng lại rất cần cho sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có sự trợ giúp thông qua việc cho vay vốn với điều kiện ưu đãi, tạo tiền đề cho các vùng kinh tế kém phát triển do môi trường và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt có điều kiện tiếp cận với nền kinh tế thị trường, rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các ngành, vùng kinh tế phát triển khác, đảm bảo sự phát triển kinh tế luôn song hành với tiến bộ và công bằng xã hội.
Thứ hai, làm lành mạnh hóa hệ thống tài chính - ngân hàng khi tách rời tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại. Với xu thế cải tổ hệ thống NHTM thuộc sở hữu Nhà nước theo hướng cổ phần hóa thì việc tách bạch tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại là một việc làm tất yếu vì bản thân các NHTM không thể gánh nổi chi phí để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Việc tách bạch này sẽ trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các ngân hàng, giúp các NHTM không còn phải chịu áp lực từ những khoản vay theo chỉ định có rủi ro cao và chi phí lớn. Từ đó giúp các NHTM phát triển cả về chất lượng cũng như quy mô, đồng thời việc sử dụng nguồn vốn của Nhà nước cho tín dụng chính sách ngày càng có tính chuyện biệt, minh bạch và hiệu quả hơn.
Những vấn đề cơ bản về tổ tiết kiệm và vay vốn 1.