Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHUỖI CUNG ỨNG ĐỒ GỖ 1. Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng và HQHĐ chuỗi cung ứng đồ gỗ 1. Gỗ và sản phẩm gỗ a. Khái niệm - Gỗ là một dạng tồn tại vật chất có cấu tạo chủ yếu từ các thành phần cơ bản như: xenluloza (40-50%), hemixenluloza (15-25%), lignin (15-30%) và một số chất khác.
Gỗ được khai thác chủ yếu từ các loài cây thân gỗ. - Đồ gỗ, cũng được gọi là đồ mộc là sản phẩm của quá trình sản xuất đồ gỗ, bao gồm các sản phẩm thuộc mã 310 (mã quốc gia về sản phẩm chế biến gỗ) hoặc mã HS94: Giường, tủ, bàn, ghế và sản phẩm tương tự. Phân loại gỗ và sản phẩm gỗ - Gỗ nguyên liệu: Bao gồm gỗ xẻ, gỗ tròn, ván nhân tạo (ván dăm, ván sợi, ván dán, ván ghép thanh,. Các loại sản phẩm này đều đến từ hai nguồn, khai thác, chế biến trong nước và nhập khẩu.
Trong đó khai thác từ các nguồn trong nước chiếm ưu thế cao hơn. Gỗ tròn, gỗ xẻ và gỗ nhân tạo lại được phân thành các cấp, các loại gỗ dựa vào kích thức, tính chất gỗ, mục đích sử dụng và tiêu chuẩn kỹ thuật chế biến gỗ. Theo nguồn gốc gỗ nguyên liệu được chia thành gỗ từ rừng tự nhiên (trong nước, nhập khẩu), gỗ rừng trồng (rừng trồng tập trung, phân tán, gỗ cao su,…. Theo đặc tính gỗ trong thương mại gồm gỗ mềm, gỗ cứng,…Theo mục đích sử dụng được chia thành gỗ làm đồ mỹ nghệ, mộc cao cấp, chạm khắc; Gỗ dán lạng, bóc; Gỗ xây dựng phà, tàu thuyền, nông cụ; Gỗ làm giấy, ván sợi; Gỗ đóng thùng đựng chất lỏng; Gỗ làm nhạc cụ,….
Theo nhóm thương phẩm dựa trên cấu tạo, tính chất cơ lý, độ bền tự nhiên và giá trị kinh tế được quy định tại Quyết định số 2198/CNR ngày 26/11/1977 của Bộ Lâm nghiệp, gỗ nguyên liệu được phân thành 8 nhóm với khoảng 365 loài gỗ. Phân loại theo Thông tư số 27/2918/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT ngày 16/11/2018 Quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản như: gỗ rừng tự nhiên, gỗ rừng trồng hay gỗ lớn, gỗ nhỏ và gỗ hộp,… 7 - Sản phẩm đồ gỗ: + Sản phẩm đồ gỗ ngoài trời (ngoại thất): Người tiêu dùng trong nước ít quan tâm đến các loại đồ gỗ ngoài trời, trừ một số ít địa phương khu vực phía Nam sử dụng một vài loại sản phẩm như bàn ghế để ở sân, vườn, song lại chủ yếu được chế biến từ các loại gỗ lũa, gốc cây,. Có thể nói đồ gỗ ngoài trời đúng nghĩa hiện rất ít có mặt trên thị trường nội địa hiện nay. + Đồ gỗ nội thất, bao gồm nội thất phòng ngủ (giường, tủ áo, bàn phấn, bàn trang điểm.), nội thất nhà bếp (bàn ăn, tủ bếp), nội thất phòng khách (bàn, ghế phòng khách, sofa, kệ TV, tủ gương, tủ góc,.), nội thất văn phòng: Đây là các sản phẩm chủ yếu trên thị trường trong nước hiện nay.
+ Sản phẩm gỗ phục vụ xây dựng, bao gồm một số sản phẩm chính như cốp pha, xà gồ, cột chống,. + Đồ gỗ thủ công mỹ nghệ, bao gồm những sản phẩm như tượng gỗ, tranh khắc gỗ, khảm trai, tranh ghép gỗ, độc bình, đồ sơn mài, chạm khắc, các sản phẩm trang trí lưu niệm, quảng cáo, đồ dung dân dụng: cốc, chén, đĩa, khay, thìa (muỗng), biểu trưng, khung tranh ảnh, phào mỹ nghệ,,. Đôi khi người ta còn xếp một số đồ nội thất phòng khách thuộc nhóm sản phẩm truyền thống, được chế biến từ các loại gỗ tốt, gỗ quý vào nhóm này như tràng kỷ, salon gỗ, tủ góc, tủ thờ, bàn thờ, đôn kỷ, án thư, bàn trà, tủ chè,. vào nhóm này do có độ cầu kỹ, tinh xảo trong chế biến.
Trong nhiều trường hợp, nhóm sản phẩm này được biết đến dưới tên gọi là đồ gỗ cao cấp. + Các sản phẩm gỗ khác: Nhóm sản phẩm này bao gồm các sản phẩm như nhạc cụ, đồ chơi trẻ em, vợt cầu lông, vợt tennít, vượt bóng bàn, gậy chơi bi-da, chân tay giả, dù cán gỗ, sản phẩm gỗ mỹ nghệ kết hợp song, mây, tre, trúc, vật liệu khác,. Chế biến cơ giới gỗ: Là loại hình chế biến gỗ mà chỉ làm thay đổi hình dạng, tính chất vật lí, cơ học của gỗ mà không làm thay đổi tính chất và thành phần hóa học của nó. Chế biến cơ giới gỗ bao gồm: Sản xuất đồ gỗ (đồ mộc), cưa xẻ gỗ, sấy.
Như vậy sản xuất đồ gỗ là loại hình chế biến cơ giới gỗ có sản phẩm là đồ gỗ (đồ mộc). 8 Ngành chế biến gỗ là ngành công nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Chế biến gỗ khai thác nguồn nguyên liệu gỗ thông qua quá trình chế biến tạo thành nhiều sản phẩm nhằm thõa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội (Lê Xuân Nguyên, 2011).2 Chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Theo Jones và Riley (1985), chuỗi cung ứng là một quy trình nội bộ để quản lý từ nguyên liệu đến tay khách hàng cuối cùng. Theo Nagurney và Anna (2006), chuỗi cung ứng là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan tới việc chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp (chuỗi cung ứng) đến khách hàng.
Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến chuyển đổi tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho khách hàng cuối cùng. Trong các hệ thống chuỗi cung ứng phức tạp, các sản phẩm được sử dụng có thể tái nhập vào chuỗi cung ứng tại bất kỳ điểm nào giá trị còn lại có thể tái chế được. Theo Đinh Bá Hùng Anh (2020), chuỗi cung ứng là dòng di chuyển có kiểm soát của nguyên liệu hoặc thành phẩm từ nhà cung ứng đến sản xuất, phân phối, bán lẻ và cuối cùng là đến tay khách hàng. Theo Huỳnh Thị Thu Sương (2012), chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng.
Theo Ganeshan, chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng [Ganeshan et al]. Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường [Lambert, Stock và Elleam, 1998]. Chuỗi cung ứng là tập hợp của 3 thực thể hoặc nhiều hơn (pháp nhân hoặc thể nhân) liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên liệu đến khách hàng [Mentzer và cộng sự]. 9 Theo Chopra và Meindl, chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Hay chuỗi cung ứng hiểu một cách đơn giản đó là sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình kinh doanh. Chou và cộng sự cho rằng, chuỗi cung ứng là mạng lưới toàn cầu nhằm phân phối sản phẩm và dịch vụ từ nguyên liệu ban đầu đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua dòng chảy thông tin, phân phối và mua sắm đã được thiết lập. Theo Hội đồng tổ chức chuỗi cung ứng (2010): Chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng,.
Như vậy, về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm: (i) Cung cấp: Tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua từ đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuấtl; (ii) Sản xuất: Là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng; (iii) Phân phối: Là quá trình các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ kịp thời và hiệu quả. Diễn đàn Chuỗi cung ứng toàn cầu đã giới thiệu mô hình chuỗi cung ứng mới. Khung mô hình này được xây dựng dựa trên tám quá trình kinh doanh quan trọng mà đó là cả chức năng chéo và các công ty chéo trong tự nhiên. Mỗi quá trình được quản lý nhóm chức năng chéo bao gồm các đại diện từ hậu cần, sản xuất, bán hàng, tài chính, marketing, và nghiên cứu phát triển.
Trong khi mỗi quá trình liên quan đến các khách hàng và bên cung cấp chính, các quá trình quản lý quan hệ khách hàng và quản lý quan hệ nhà sản xuất hình thành các mối liên kết quan trọng trong chuỗi cung ứng [“What is supply chain management? improve business profitability and increase revenues”. Truy cập tháng 2 năm 2019]. Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng: Chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng. 10 Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản, đó là tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng Trong một chuỗi cung ứng, mỗi doanh nghiệp là một mắt xích của một hay nhiều chuỗi cung ứng khác nhau, đan xen tạo thành mạng lưới phức tạp.
Trong mỗi doanh nghiệp đều có những bộ phận chức năng phối hợp hoạt động với nhau để thực hiện mục tiêu của tổ chức, đó là những chuỗi cung ứng nhỏ bên trong. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp sản xuất với các doanh nghiệp cung ứng, phân phối, tiêu thụ tạo thành mối quan hệ bên ngoài chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp sản xuất thường được xem như là nhân tố trung tâm (hạt nhân) của chuỗi, do vậy, trong một chuỗi bất kỳ luôn luôn có một doanh nghiệp trung tâm với một sản phẩm chủ lực. Các nhà cung cấp và khách hàng trong chuỗi cung ứng có doanh nghiệp trung tâm được gọi là các thành viên của chuỗi cung ứng.