Tổng quan luận án

Công nghiệp chế biến gỗ là ngành hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam, bình quân đạt trên 13%/năm. Năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt trên 8 tỷ USD, về đích trước 3 năm so với chỉ tiêu của Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006–2020. Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản đạt trên 13,2 tỷ USD, tăng 16,9% so với năm 2019 và chiếm trên 30% giá trị xuất khẩu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Năm 2022, giá trị này đạt 16,98 tỷ USD, tăng khoảng 6% so với năm 2021. Sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu đến hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng đầu khu vực Đông Nam Á, thứ 2 châu Á và thứ 5 trên thế giới, chiếm khoảng 6% thị phần sản phẩm gỗ toàn cầu. Quy mô toàn ngành có gần 13.000 cơ sở chế biến gỗ, trong đó trên 5.840 doanh nghiệp.

Sản phẩm chế biến gỗ gồm 3 mã sản phẩm chính: Mã 161 (gia công và bảo quản gỗ tự nhiên: gỗ xẻ sấy/chưa sấy, gỗ xẻ bảo quản); Mã 162 (ván nhân tạo và gỗ xây dựng); Mã 310 (đồ gỗ như bàn, ghế, giường, tủ). Cơ sở sản xuất đồ gỗ chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 45% số cơ sở chế biến gỗ cả nước. Vùng Đông Nam Bộ tập trung 41% số cơ sở chế biến gỗ cả nước, trong đó số cơ sở sản xuất đồ gỗ chiếm 36,62% tổng số cơ sở chế biến gỗ của toàn vùng và có khoảng 70–75% số cơ sở sản xuất đồ gỗ phục vụ xuất khẩu.

Tuy nhiên, ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đang bộc lộ nhiều hạn chế: chưa có sự chuyên môn hoá và phân công sản xuất theo vùng do thiếu quy hoạch; phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu; sự liên kết hợp tác giữa các khâu trong chuỗi cung ứng còn mờ nhạt; chưa có công trình đánh giá hệ thống về hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Hồng Vích, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (Mã số: 96 20 115) tại Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Hà và TS. Cao Xuân Hòa, được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống thực tiễn và học thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở đánh giá thực trạng và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của chuỗi, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chuỗi cung ứng và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ.
    • Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ.
    • Xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ.
    • Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Cơ sở khoa học về chuỗi cung ứng và hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ là gì?
  2. Nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ cần dựa trên cơ sở khoa học nào?
  3. Hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ hiện nay như thế nào?
  4. Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ?
  5. Cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ.
  • Phạm vi nội dung: Chuỗi cung ứng đồ gỗ gồm 3 khâu: cung ứng nguyên liệu đầu vào, sản xuất đồ gỗ và phân phối tiêu thụ. Luận án tập trung vào khâu sản xuất – được xác định là hạt nhân của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 3 địa phương trọng điểm ngành gỗ của vùng Đông Nam Bộ gồm TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2015–2019; số liệu sơ cấp được điều tra, khảo sát trong giai đoạn 2018–2021; các giải pháp đề xuất định hướng cho giai đoạn 2020–2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp có hệ thống các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng:

  • Khái niệm và bản chất chuỗi cung ứng: Jones và Riley (1985) xem chuỗi cung ứng là quy trình nội bộ quản lý từ nguyên liệu đến khách hàng cuối cùng; Nagurney và Anna (2006) nhấn mạnh cấu trúc hệ thống gồm tổ chức, con người, thông tin và nguồn lực; Đinh Bá Hùng Anh (2020), Huỳnh Thị Thu Sương (2012) tiếp cận dưới góc độ dòng di chuyển có kiểm soát của nguyên liệu và thành phẩm; Ganeshan và cộng sự định nghĩa chuỗi cung ứng là mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối; Lambert, Stock và Elleam (1998) coi đây là sự liên kết giữa các doanh nghiệp; Mentzer và cộng sự (2001) xác định chuỗi cung ứng là tập hợp từ 3 thực thể trở lên liên quan trực tiếp đến dòng chảy sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin; Chopra và Meindl nhấn mạnh sự đáp ứng nhu cầu khách hàng qua các mắt xích; Chou và cộng sự tiếp cận mạng lưới toàn cầu; Hội đồng chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (CSCMP, 2007, 2010) và Diễn đàn Chuỗi cung ứng toàn cầu đưa ra khung tích hợp 8 quy trình kinh doanh chéo.
  • Quản trị chuỗi cung ứng và các thành phần vận hành: Christopher (2005b) xem quản lý chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều; Jerrey (2004) nhấn mạnh quản lý mọi hoạt động; Michael Hugos (2003) phân tích 5 thành phần cốt lõi (sản xuất, lưu kho, địa điểm, vận tải, thông tin); David Blanchard (2011) bổ sung vai trò của hoạch định, dự báo và mua hàng; Douglas, James và Lisa (cùng các nghiên cứu của Eltantawy và cs, 2009; Li và cs, 2006; Lo và Power, 2010) phân tích cấu trúc kênh phân phối và 14 khó khăn quản trị; Sandberg và Abrahamsson làm rõ ảnh hưởng của sự hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao; Henry, Rado và Scarlett (nghiên cứu ngành Pallet Mỹ) xác định 7 nhóm yếu tố chi phối chuỗi cung ứng.
  • Nghiên cứu thực nghiệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ: Ravinder Kumar, Rajesh K. Singh và Ravi Shankar chỉ ra 13 nhân tố ảnh hưởng đến quản trị chuỗi cung ứng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tại Ấn Độ và các nước đang phát triển, trong đó sự hỗ trợ của lãnh đạo, tầm nhìn dài hạn và nguồn lực chuỗi là quan trọng nhất.
  • Các nghiên cứu ngành gỗ tại Việt Nam: Lê Xuân Nguyên (2011), VCCI (2019), VIFOREST (2015), Vũ Minh Ngọc (2020) đã phân tích năng lực sản xuất, thực trạng nguyên liệu, thị trường và xuất khẩu gỗ Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các nghiên cứu lý thuyết chuỗi cung ứng quốc tế thường tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn có khả năng tự chủ toàn bộ chuỗi (từ A đến Z). Trong khi đó, tại vùng Đông Nam Bộ, khoảng 95% doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô vừa và nhỏ (SME). Chế biến gỗ và sản xuất đồ gỗ là ngành sản xuất mang tính đặc thù cao. Trước thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng nói chung, nhưng chưa có công trình nào đánh giá chuyên sâu và toàn diện về hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình phân tích

  • Khái niệm ngành: Gỗ có cấu tạo từ xenluloza (40–50%), hemixenluloza (15–25%), lignin (15–30%). Đồ gỗ (đồ mộc) thuộc mã sản phẩm 310 hoặc HS94 (giường, tủ, bàn, ghế). Chuỗi cung ứng đồ gỗ bao gồm 3 bộ phận: Cung cấp nguyên liệu (gỗ tròn, gỗ xẻ, MDF, ván dán, sơn, keo dán, phụ kiện); Sản xuất đồ gỗ (hạt nhân của chuỗi); Phân phối sản phẩm (kho bãi, bán sỉ, bán lẻ, khách hàng xuất khẩu). Trong ngành chế biến gỗ có 5 dạng chuỗi cung ứng: Chuỗi MDF, Chuỗi Ván dán, Chuỗi Ván ghép thanh, Chuỗi Dăm gỗ và Chuỗi Đồ gỗ.
  • Cấu trúc và liên kết chuỗi: Cấu trúc dọc (chiều dài - số lớp/tier từ nhà sản xuất đến khách hàng), cấu trúc ngang (số doanh nghiệp tại mỗi lớp). 4 dạng liên kết: Quản lý quá trình (lớp thứ 1), Giám sát (lớp thứ 2), Liên kết yếu qua trung gian (lớp xa hơn), và Mối liên kết không phải thành viên. Ba dòng chảy cơ bản gồm: Dòng sản phẩm/vật lý (Physical Flow), Dòng thông tin (Information Flow), Dòng tài chính/tiền tệ.
  • Mô hình tương quan thị trường – chuỗi cung ứng: Phân loại theo cung - cầu thành 4 dạng thị trường:
    1. Thị trường đang phát triển: Cung thấp, Cầu thấp, khó dự báo, chi phí bán hàng cao, tồn kho thấp.
    2. Thị trường tăng trưởng: Cung thấp, Cầu cao, mức phục vụ khách hàng đòi hỏi cao, tồn kho có thể cao, chi phí bán hàng thấp.
    3. Thị trường ổn định: Cung cao, Cầu cao, có sự cân bằng tốt, tập trung tối thiểu hóa tồn kho và chi phí.
    4. Thị trường trưởng thành: Cung cao hơn Cầu, sản phẩm dư thừa, cạnh tranh quyết liệt, yêu cầu tính linh hoạt cao.
  • Hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động (HQHĐ):
    1. Mức phục vụ khách hàng: Đánh giá theo mô hình sản xuất để tồn kho (BTS) và sản xuất theo đơn hàng (BTO); đo bằng tỷ lệ hoàn thành đơn hàng, tỷ lệ giao hàng đúng hạn.
    2. Hiệu quả nội bộ: Giá trị hàng tồn kho, vòng quay tồn kho, tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), vòng quay tiền mặt.
    3. Nhu cầu linh hoạt: Thời gian chu kỳ hoạt động, mức gia tăng tính linh hoạt (khả năng đáp ứng đơn hàng tăng thêm), mức linh hoạt bên ngoài (cung cấp sản phẩm bổ sung).
    4. Phát triển sản phẩm: Tỷ lệ số sản phẩm mới bán ra, tỷ lệ doanh số sản phẩm mới, tổng thời gian phát triển và phân phối sản phẩm mới.
  • Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Mô hình toán học $Y = f(X_1, X_2)$, trong đó $Y$ là HQHĐ sản xuất đồ gỗ; $X_1$ là nhóm biến số khách quan/bên ngoài không điều khiển được (chính sách, thể chế hành chính, rào cản kỹ thuật TCVN/QCVN, quan hệ liên kết chuỗi); $X_2$ là nhóm biến số chủ quan/bên trong điều khiển được (nguồn nhân lực, quản lý, vật lực/công nghệ/máy móc thiết bị, tài lực, marketing).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tiếp cận: Kết hợp nghiên cứu định tính (phương pháp chuyên gia, khảo sát sơ bộ để định hình mô hình lý thuyết) và nghiên cứu định lượng (khảo sát diện rộng bằng bảng hỏi chuẩn hóa).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), VCCI, Trademap, ITTO, các hiệp hội địa phương (HAWA TP.HCM, BIFA Bình Dương, DOWA Đồng Nai) giai đoạn 2015–2019.
    • Dữ liệu sơ cấp: Điều tra trực tiếp tại các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu đồ gỗ tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương trong giai đoạn 2018–2021.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu:
    • Thống kê mô tả và so sánh bảng biểu.
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha và phân tích hệ số tương quan biến tổng.
    • Kiểm định tính thích hợp của mẫu qua chỉ số KMO và kiểm định Bartlett's Test of Sphericity.
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA - Exploratory Factor Analysis) và sử dụng ma trận thành phần xoay để xác định các nhân tố ảnh hưởng thực sự.
    • Phân tích hồi quy bội xác định hệ số phương trình (Coefficients) để đo lường mức độ tác động của từng nhóm nhân tố.
    • Phân tích ma trận SWOT và phương pháp nhận diện các "nút thắt" trong chuỗi cung ứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về chuỗi cung ứng và hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ

Chương này hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng đồ gỗ, phân tích các dòng chảy vật chất, thông tin, tài chính và phân loại 5 dạng chuỗi cung ứng đặc trưng của ngành chế biến gỗ Việt Nam. Đồng thời, chương 1 phân tích các mô hình chuỗi cung ứng quốc tế tiêu biểu như chuỗi cung ứng hoàn chỉnh vùng Bắc Carolina (Hoa Kỳ), chuỗi cung ứng tích hợp của tập đoàn IKEA (Thụy Điển), cùng kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng tại Ấn Độ và Hoa Kỳ.

Về bức tranh thực tiễn ngành chế biến gỗ Việt Nam, số lượng doanh nghiệp tăng từ 896 doanh nghiệp (năm 2000) lên 3.934 doanh nghiệp (năm 2015) và đạt 5.560 doanh nghiệp (năm 2019). Khối doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng: năm 2019 có 612 doanh nghiệp FDI (chiếm 25,5% số doanh nghiệp xuất khẩu), đạt kim ngạch 5 tỷ USD (chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và đồ gỗ cả nước). Năm 2020, kim ngạch của khối FDI đạt 6,105 tỷ USD, chiếm 49,35% tổng kim ngạch toàn ngành. Về mặt hàng, đồ gỗ nội thất năm 2020 đạt kim ngạch 10 tỷ USD (gấp 1,7 lần năm 2016), đưa Việt Nam đứng vị trí thứ 5 thế giới về xuất khẩu đồ gỗ nội thất, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu ghế gỗ, và thứ 2 thế giới về đồ gỗ văn phòng và phòng ngủ.

Năm Tổng số lao động (người) Vốn SXKD bình quân (tỷ đồng) Doanh thu thuần (tỷ đồng) Lợi nhuận trước thuế (tỷ đồng) Tỷ suất lợi nhuận (%) Trang bị TSCĐ/lao động (triệu đồng)
2014 444.903 196.853 213.073 4.150 2,0 95,1
2015 - - - - 2,6 109,3
2016 - - - - 2,2 105,6
2017 - - - - 2,0 121,6
2018 - - - - 1,2 141,5

(Nguồn: Tổng cục Thống kê – Chương trình điều tra thống kê quốc gia hàng năm)

Kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ giai đoạn 2016–2020 đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm (AAGR) là 14,94%, trong đó ván ép tăng 18,95%/năm, ván mỏng tăng 3,20%/năm, gỗ xẻ giảm 17,59%/năm và gỗ tròn giảm 33,48%/năm do chủ trương hạn chế xuất thô.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hạ tầng logistics của vùng Đông Nam Bộ, làm rõ tính đại diện của 3 tỉnh/thành phố nghiên cứu (Đồng Nai, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh). Chương này thiết lập quy trình nghiên cứu chi tiết: thiết kế bảng hỏi khảo sát điều tra sơ cấp, quy trình chọn mẫu doanh nghiệp chế biến gỗ theo quy mô vốn và loại hình sở hữu, phương pháp xử lý dữ liệu qua phần mềm thống kê (kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích EFA, phân tích tương quan và hồi quy), đồng thời cụ thể hóa hệ thống thang đo đánh giá HQHĐ sản xuất đồ gỗ theo 4 tiêu chí cốt lõi (mức phục vụ khách hàng, hiệu quả nội bộ, tính linh hoạt và phát triển sản phẩm).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm chi tiết về chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ:

  • Thực trạng tổ chức chuỗi: Xác định sơ đồ cấu trúc chuỗi cung ứng xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ gồm 3 bộ phận: Cung ứng đầu vào (kênh gỗ tròn trong nước và nhập khẩu; kênh gỗ xẻ; kênh ván MDF và PB; kênh keo dán và sơn); Sản xuất đồ gỗ (phân hóa rõ rệt theo quy mô: quy trình sản xuất của doanh nghiệp vừa và nhỏ đơn giản, phân tán; quy trình của doanh nghiệp lớn có tính tích hợp cao); Phân phối xuất khẩu (thị trường chính là Hoa Kỳ chiếm 57,92%, Nhật Bản chiếm 10,46%, Trung Quốc, Hàn Quốc và EU).
  • Đánh giá hiệu quả hoạt động: Tổng hợp kết quả khảo sát mối quan hệ cung - cầu, mức phục vụ khách hàng (BTS, BTO), hiệu quả nội bộ (vòng quay vốn, ROS), nhu cầu linh hoạt và tốc độ phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp tại Đồng Nai, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh.
  • Kết quả kiểm định thống kê và phân tích nhân tố EFA:
    • Kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích tương quan biến tổng xác nhận độ tin cậy của các thang đo.
    • Kiểm định KMO và Bartlett's Test đạt yêu cầu về tính thích hợp của dữ liệu.
    • Ma trận thành phần xoay (Rotated Component Matrix) đã trích xuất và xác định được 13 nhân tố thuộc nhóm bên trong (chủ quan) có ảnh hưởng thực sự đến HQHĐ sản xuất đồ gỗ của chuỗi cung ứng.
    • Phân tích hồi quy bội (Coefficients) xác định trọng số và mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố, chỉ ra các nhân tố then chốt cần ưu tiên cải thiện.
  • Phân tích SWOT, nhận diện "nút thắt" và giải pháp: Xác định các điểm nghẽn lớn trong chuỗi gồm: sự mất cân đối nguồn nguyên liệu hợp pháp (gỗ tròn, gỗ xẻ, ván nhân tạo), sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, năng lực quản trị và liên kết chuỗi của nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu; từ đó lập bảng cân đối nguyên liệu và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng đến năm 2030.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng sản phẩm chế biến gỗ; đề xuất khung tiêu chí kinh tế và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động phù hợp với đặc thù ngành sản xuất đồ gỗ.
  2. Thiết lập quy trình nghiên cứu kết hợp: xác định định tính các luận điểm nghiên cứu thông qua phương pháp chuyên gia và chứng minh thực nghiệm bằng phương pháp điều tra khảo sát kết hợp phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến.
  3. Luận giải đặc thù cấu trúc chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ: chuỗi bao gồm 3 bộ phận cấu thành (cung ứng đầu vào, sản xuất đồ gỗ, phân phối), trong đó phương thức vận hành của các bộ phận phụ thuộc lớn vào quy mô doanh nghiệp (lớn, vừa và nhỏ).
  4. Xác định mô hình các yếu tố ảnh hưởng: phân định rõ 2 nhóm yếu tố bên ngoài (khách quan) và bên trong (chủ quan), trong đó xác định thực nghiệm 13 nhân tố thuộc nhóm bên trong ảnh hưởng trực tiếp đến HQHĐ sản xuất đồ gỗ của chuỗi.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Xây dựng sơ đồ mô hình chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ, mô tả chi tiết các kênh cung ứng nguyên liệu (gỗ tròn, gỗ xẻ, MDF, PB, sơn, keo), quy trình sản xuất theo quy mô và mạng lưới phân phối.
  2. Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về kết quả sản xuất kinh doanh, cơ cấu vốn, lao động, trang bị tài sản cố định và các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp chế biến gỗ tại Đồng Nai, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh.
  3. Xác định các "nút thắt" trọng yếu cản trở hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng và đề xuất bảng cân đối nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020–2030 nhằm nâng cao HQHĐ của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ, tập trung vào: hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu gỗ hợp pháp, nâng cao năng lực quản trị nội bộ cho các doanh nghiệp SME, tăng cường liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi và phát triển công nghiệp phụ trợ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung khảo sát thực nghiệm tại 3 tỉnh/thành phố trọng điểm (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương), chưa mở rộng điều tra toàn diện trên cả 6 tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ (chưa khảo sát sâu tại Tây Ninh, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu).
  • Hạn chế về phân đoạn chuỗi: Luận án tập trung đánh giá sâu tại hợp phần sản xuất đồ gỗ xuất khẩu (mã sản phẩm 310 / HS94) với tư cách là hạt nhân chuỗi; các hợp phần cung ứng nguyên liệu và phân phối thương mại chủ yếu được xem xét dưới góc độ tương tác với khâu sản xuất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các trung tâm chế biến gỗ khác của cả nước (khu vực miền Trung như Bình Định, khu vực miền Bắc như Hà Nội, Bắc Ninh).
    • Nghiên cứu so sánh hiệu quả hoạt động giữa chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu và chuỗi cung ứng đồ gỗ tiêu thụ nội địa.
    • Đi sâu phân tích hiệu quả hoạt động của các chuỗi sản phẩm trung gian độc lập trong ngành lâm sản như chuỗi cung ứng MDF, ván dán và dăm gỗ xuất khẩu.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế lâm nghiệp; cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh và phương pháp luận ứng dụng phân tích EFA để đánh giá chuỗi cung ứng ngành hàng đặc thù.
  • Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp chế biến gỗ: Cung cấp hệ thống chỉ tiêu tự đánh giá hiệu quả nội bộ, mức phục vụ khách hàng, tính linh hoạt và năng lực phát triển sản phẩm; giúp nhận diện 13 nhân tố nội tại ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất để tối ưu hóa chi phí vận hành và quản lý tồn kho.
  • Đối với các hiệp hội ngành nghề (VIFOREST, HAWA, BIFA, DOWA) và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tế về cân đối cung - cầu nguyên liệu, cơ chế liên kết chuỗi và thực trạng doanh nghiệp SME, phục vụ công tác quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ và đàm phán thương mại quốc tế (thực thi VPA/FLEGT, CPTPP).

Câu hỏi thường gặp

1. Khâu nào đóng vai trò hạt nhân trong chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ?
Khâu sản xuất đồ gỗ được xác định là hạt nhân của chuỗi cung ứng. Mọi hoạt động của khâu cung ứng nguyên vật liệu đầu vào (gỗ, ván nhân tạo, phụ kiện, sơn, keo) và khâu phân phối, tiêu thụ sản phẩm đều hướng tới mục tiêu phục vụ và tối ưu hóa hoạt động của khâu sản xuất này.

2. Luận án sử dụng những nhóm tiêu chí nào để đo lường hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ?
Hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng được đánh giá qua 4 nhóm tiêu chí chính: (1) Mức phục vụ khách hàng (tỷ lệ hoàn thành đơn hàng, tỷ lệ giao hàng đúng hạn theo mô hình BTS và BTO); (2) Hiệu quả nội bộ (giá trị tồn kho, vòng quay tồn kho, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ROS, vòng quay tiền mặt); (3) Nhu cầu linh hoạt (thời gian chu kỳ hoạt động, mức gia tăng tính linh hoạt, mức linh hoạt bên ngoài); (4) Phát triển sản phẩm (tỷ lệ sản phẩm mới bán ra, tỷ lệ doanh số sản phẩm mới, thời gian phát triển sản phẩm mới).

3. Kết quả phân tích định lượng EFA đã xác định được bao nhiêu nhân tố nội tại ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất đồ gỗ?
Thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA và ma trận thành phần xoay từ số liệu điều tra thực tế, luận án đã trích xuất và xác định được 13 nhân tố thuộc nhóm bên trong (yếu tố chủ quan) có ảnh hưởng thực sự đến hiệu quả hoạt động sản xuất đồ gỗ của chuỗi cung ứng vùng Đông Nam Bộ.

4. Khối doanh nghiệp FDI có vị trí như thế nào trong cơ cấu xuất khẩu ngành gỗ theo số liệu luận án?
Năm 2019, khối doanh nghiệp FDI có 612 doanh nghiệp (chiếm 25,5% số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ cả nước) nhưng đạt kim ngạch xuất khẩu 5 tỷ USD (chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và đồ gỗ của Việt Nam). Đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của khối FDI đạt 6,105 tỷ USD, chiếm 49,35% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, trong đó sản phẩm gỗ chiếm 92,72% tổng giá trị xuất khẩu của khối này.

5. Trong ngành chế biến gỗ Việt Nam có những loại hình chuỗi cung ứng sản phẩm nào?
Căn cứ vào sản phẩm cuối cùng, ngành chế biến gỗ Việt Nam có 5 loại hình chuỗi cung ứng chính: (1) Chuỗi cung ứng MDF; (2) Chuỗi cung ứng Ván dán; (3) Chuỗi cung ứng Ván ghép thanh dạng ghép ngón; (4) Chuỗi cung ứng Dăm gỗ; (5) Chuỗi cung ứng Đồ gỗ. Trong đó, tại vùng Đông Nam Bộ, chuỗi cung ứng đồ gỗ là loại hình chiếm ưu thế chủ yếu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hồng Vích đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng trong ngành chế biến gỗ, xác lập khung đánh giá hiệu quả hoạt động phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Công trình đã kết hợp phương pháp chuyên gia định tính với phân tích định lượng EFA và hồi quy đa biến trên mẫu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương để nhận diện 13 nhân tố nội tại chi phối hiệu quả sản xuất của chuỗi. Dựa trên việc phân tích cấu trúc chuỗi, đánh giá 4 nhóm tiêu chí hiệu quả và nhận diện các nút thắt nguyên liệu, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng đồ gỗ xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2020–2030.