CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây cỏ Stylo 1. Tên, nguồn gốc phân bổ của cỏ Stylo * Tên gọi Stylo là cây cỏ thuộc Bộ Đậu (Fabales), họ đậu (Fabaceae), thuộc phân họ Faboideae, chi Stylosanthes và được APGII (2003) [42] phân loại như sau: Giới (regnum): Plantae (không phân hạng) Angiospermae (không phân hạng): Eudicots (không phân hạng) Rosids Bộ (ordo): Fabales Họ (familia): Fabaceae Phân họ (subfamilia): Faboideae Tông (tribus): Aeschynomeneae Chi (genus): Stylosanthes Sw. Stylosanthes đến nay là cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới thành công nhất trên toàn thế giới.
Stylosanthes có ý nghĩa trong hệ thống sản xuất nông nghiệp và môi trường (Cameron và cs, 2004) [51]. Bốn loài Stylosanthes là S. Trong chi Stylosanthes có Stylo CIAT 184 là loài đậu lưu niên ngắn, e 4 được chọn tạo từ Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT). Chúng mọc thành bụi nhỏ với vài cành hóa gỗ, có tiềm năng năng suất chất xanh và hàm lượng protein cao.
Stylo CIAT 184 thích nghi rộng với các loại đất và khí hậu, mọc tốt trên đất cằn cỗi, axit nhưng sẽ không mọc trên đất quá kiềm (pH > 8). Stylo CIAT 184 có khả năng chống chịu tốt đối với bệnh nấm cổ rễ ở Đông Nam Á. Một đặc điểm nổi bật của Stylo CIAT 184 là có ít lông và mềm hơn so với các loài Stylosanthes trước đây. Cỏ là thức ăn bổ sung tốt cho hầu hết động vật, bao gồm gia cầm, lợn và cá (Guptan và Singh, 1983) [61].
Ngoài ra, nó còn có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn và ngăn chặn cỏ dại một cách hiệu quả (Horne và Stür, 1999) [65]. * Nguồn gốc Là một loại cỏ thuộc bộ đậu, có nguồn gốc từ Châu Mĩ La Tinh. Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawaii, và một số nước Châu Phi như: Kenya, Uganda, Nigieria. Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia năm 1930.
Đây là loại cây được sử dụng làm thức ăn cho gia súc được phát triển đáng kể ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã được nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công Gô, Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam cây cỏ stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia. Năng suất chất xanh Năng suất chất xanh là toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên một đơn vị diện tích. Những điều kiện ngoại cảnh và các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng của cỏ như khí hậu, vị trí địa lí, điều kiện phân bón… Trong điều kiện nhiệt đới, môi trường đất là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng cỏ.
Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó nó ảnh hưởng đến sự hấp thu các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật có trong đất và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ những năm trước e 5 đây. Từ các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào vùng chăn nuôi, vào mức phân bón và nước tưới, đất đai. khác nhau Stylosanthes sẽ cho năng suất khác nhau.
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Ngoạn (2007) [21], Sản lượng chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha/năm (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm), Stylo là nguồn thức ăn bổ sung rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ, đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ để bổ sung cho các loài khác như gia cầm; Tại Đắk Lắk, năng suất chất xanh của cỏ stylo CIAT 184 đạt 12,34 tấn/ha/lứa; cho năng suất 3,08 VCK/ha/lứa (tương ứng với 21,56 tấn/ha/năm) cao hơn so với trồng ở các vùng sinh thái khác của Việt Nam (Lê Hòa và cs (2009) [7]). Lượng phân bón cung cấp cho cây trồng nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, quá trình trao đổi chất của cây trồng. Từ đó dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần dinh dưỡng. Theo Hoàng Văn Tạo và cs (2010) [26], cho biết Stylosanthes CIAT 184 trồng tại Nghĩa Đàn đạt sản lượng thức ăn xanh từ 52,5 đến 65,2 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau.
Cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus, Hoàng Văn Tạo và cs (2010) [26] cho biết năng suất chất xanh đạt từ 49,70 đến 62,00 tấn/ha; năng suất chất khô đạt từ 11,70 đến 14,92 tấn/ha; năng suất protein từ 1,99 đến 2,53 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau. Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay cả ở vùng đất đồi cao. Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn. Năng suất xanh đạt 40-50 tấn/ha/năm.
Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm). Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, lipit 1,55%. Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ, đặc e 6 biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ. Cỏ Stylo (Stylosanthes hamata): trồng một lần có thể thu hoạch 4 - 5 năm.
Năng suất có thể đạt 90 - 100 tấn/ha/năm nếu được chăm sóc, thâm canh tốt (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [20]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và cs (2008) [19] cho biết cỏ Stylo Plus cho năng suất VCK từ 13,6 đến 19,2 tấn/ha/năm, cao hơn năng suất của giống Stylo.Cook (12,5 tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Trương Tấn Khanh (1999) [12], tương đương với giống cỏ Stylo.Cook trồng trên đất xám Bình Dương của Lê Hà Châu (1999) [1]. Các giống Stylosanthes khác nhau cũng được nghiên cứu ở Thái Lan. Satjipanon và cs (1995) [86], Hare và cs (2007) [62] cho biết: Stylo CIAT 184 cho năng suất 12 - 17 tấn VCK/ha/năm.
Stylo Ubon và Stylo CIAT 184 sản xuất 13; 18 và 17 tấn VCK/ha/năm, tương ứng cho năm thứ nhất, thứ hai và năm thứ ba. Trong khi đó Stylo Seca có khả năng sản xuất thấp hơn trong 3 loài Stylosanthes lâu năm, nó đạt 4,7; 10,6 và 6,7 tấn VCK/ha/năm, tương ứng cho năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba.Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo 1. Thành phần hóa học của cỏ Stylo * Protein: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa, tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo. Theo Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009) [7] cây đậu stylo có năng suất không cao như một số giống hòa thảo, nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, tỉ lệ protein thô đạt 16,86%, tỉ lệ sử dụng cỏ stylo cũng tương đối cao (87,6%).
Theo Nguyễn Thị Mùi và cs (2008) [19]: trên cả 3 vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Ba Vì, Lâm Đồng) hàm lượng protein bình quân ở cỏ stylo Plus đạt 17%. Theo Đặng Thuý Nhung (2008) [23] cho biết: Hàm lượng protein của thân lá cỏ Stylo khô là 16,3%. e 7 Stylo CIAT 184 trồng tại Thái Lan có chứa protein thô 17,1% (Kiyothong và cs, 2004a) [68]. Còn ở Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày có 20,2% VCK, protein thô tính theo VCK là 19% (Phengsanvanh, 2003) [83]).
Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [53], Stylo CIAT 184 có 22,3% VCK, protein thô 19,3%. Hàm lượng VCK đạt từ 20 - 28%, protein thô 13,3% tính theo VCK (Toum Keopaseuht, 2004 [91]). Theo Satjipanon và cs, 1995 [86]. Thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo VCK dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô.
* Lipit Hàm lượng lipit 1,55%. Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và cs) [20]. Omole và cs (2007) [92] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có 1,34% lipit thô. Cỏ Stylosanthes guianensis, khi trồng - các nước, các vùng sinh thái khác nhau, thời gian thu mẫu, phương pháp phân tích khác nhau thì hàm lượng lipit trong cỏ cũng khác nhau: lipit dao động từ 1,34% - 2,7%.
* Chất xơ Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [53], Stylo CIAT 184 có hàm lượng xơ thô chiếm 30% VCK. Hàm lượng VCK đạt từ 20 - 28%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo VCK (Toum Keopaseuht, 2004 [91]). Theo Kiyothong và cs (2004a) [68] hàm lượng xơ trung bình 39,1% và xơ axit 56,8%. Thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo chất khô dao động từ 49,1 - 61,5% xơ trung tính; 33,41 - 47,3% xơ axit (Kiyothong và cs, 2004b) [69].
Cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày tại Lào có 20,2% VCK; tỷ lệ chất xơ trung tính tính theo VCK là 64,2% (Phengsanvanh, 2003) [83]). e 8 * Các chất khoáng Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [53], Stylo CIAT 184 có chứa 5,1% chất khoáng, trong đó khoáng Ca chiếm 0,2% và P chiếm 0,4%. Thành phần chất khoáng của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo chất khô dao động từ 6,3 - 8,7% (Kiyothong và cs, 2004b) [69]. Tại Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày chứa 20,2% VCK, còn chất khoáng tính theo VCK có 5,5% (Phengsanvanh, 2003) [83]).
* Các chất sắc tố Nhìn chung các sắc tố có trong cây họ đậu thì carotenoit là nhóm nhiều nhất và phổ biến rộng rãi của các sắc tố trong tự nhiên trong đó có Stylo là một loài cây giàu chất sắc tố, chủ yếu là caroten và xanthophyll. Caroten là tiền vitamin A với hiệu suất chuyển hóa khác nhau tùy theo loài động vật và mức độ thừa hoặc thiếu vitamin A trong khẩu phần. Xanthophyll không có hoạt tính của vitamin nhưng nó có thể được dự trữ trong các mô cơ, da và lòng đỏ trứng của gia cầm. Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo Theo Viện Chăn nuôi (2001) [34] bột thân lá Stylo cho gia cầm có hàm lượng vật chất khô tương đối cao trung bình 87,40% VCK, hàm lượng protein đạt 16,5% VCK, xơ đạt 24,3 % VCK; lipit thô 1,9% VCK; canxi 1,52 % VCK; photpho 0,21% VCK và năng lượng trao đổi 1568 kcal/kg.
Phân tích thành phần các axit amin cho biết cỏ Stylo chứa tương đối đầy đủ các loại axit amin, hai loại axit amin có hàm lượng thấp nhất là tryptophan và cysteine.