phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có bố cục gồm hai chƣơng và sáu mục. LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC THEO KHÔNG GIAN CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ 1. Nhận thức chung về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự 1. Cơ sở của quy định về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự 1.
Quy định của pháp luật một số nƣớc về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HIỆU LỰC THEO KHÔNG GIAN VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN 2. Thực trạng quy định của Bộ luật hình sự về hiệu lực theo không gian đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 7 2. Thực trạng quy định của Bộ luật hình sự về hiệu lực theo không gian đối với những hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2.
Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định về hiệu lực theo không gian của Bộ luật hình sự Việt Nam 8 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC THEO KHÔNG GIAN CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ 1. Nhận thức chung về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự 1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “hiệu lực” có nghĩa là tác dụng đích thực hoặc giá trị thi hành1. Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa thông thƣờng, hiệu lực của đạo luật hình sự là tác dụng đích thực hay giá trị thi hành của đạo luật hình sự.
Trong khoa học luật hình sự hiện nay, có khá nhiều cách thể hiện khác nhau về khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự. Theo tác giả Trần Thị Quang Vinh và Vũ Thị Thúy, hiệu lực của đạo luật hình sự “chỉ rõ giới hạn về không gian và thời gian của đạo luật đƣợc áp dụng đối với những hành vi phạm tội”.2 Theo cuốn Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Viện nghiên cứu Nhà nƣớc và pháp luật, “hiệu lực của đạo luật hình sự là sự hoạt động hiện thực của những quy phạm pháp luật đƣợc thể hiện trong đạo luật đó, là sự biểu hiện trong thực tế năng lƣợng pháp lý của chúng. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự về cơ bản bao hàm hiệu lực của đạo luật về không gian và hiệu lực của đạo luật về thời gian, tức là khía cạnh làm sáng tỏ các giới hạn về không gian và giới hạn về thời gian của việc áp dụng đạo luật hình sự”.3 Nói một cách ngắn gọn, hiệu lực của đạo luật hình sự là giới hạn về không gian và thời gian của việc áp dụng đạo luật hình sự. 1 Nguyễn Nhƣ Ý (2008), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.702 2 Trần Thị Quang Vinh, Vũ Thị Thúy (2008), Luật hình sự Việt Nam (phần chung), NXB Trẻ, tr.36 3 Viện nghiên cứu Nhà nƣớc và pháp luật (1993), Mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam (phần chung), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.57 9 Trong khi đó, tác giả Phạm Văn Beo cho rằng hiệu lực của đạo luật hình sự là “phạm vi tác động của đạo luật hình sự đƣợc xác định trong giới hạn về không gian và thời gian cụ thể.
Hiệu lực của đạo luật hình sự chính là sự hiện thực hóa những quy phạm pháp luật hình sự đƣợc quy định trong đạo luật hình sự”.4 Theo tác giả Lê Cảm, hiệu lực của đạo luật hình sự là thời điểm áp dụng một hoặc nhiều quy phạm cụ thể của luật hình sự đối với hành vi phạm tội tƣơng ứng đƣợc thực hiện bởi chủ thể nhất định trên một lãnh thổ nào đó và trong một thời gian nào đó. Nhƣ vậy, từ định nghĩa khoa học của khái niệm này cho thấy, nội hàm của nó là ở chỗ: đạo luật hình sự chỉ có hiệu lực khi: - Một hoặc nhiều quy phạm cụ thể đƣợc quy định tại một hoặc nhiều điều khoản tƣơng ứng của pháp luật hình sự thực định; - Việc áp dụng đạo luật hình sự chỉ diễn ra khi có sự kiện phạm tội, tức là có hành vi phạm tội cụ thể đƣợc quy định tƣơng ứng trong luật đƣợc thực hiện trong thực tế khách quan; - Hành vi phạm tội phải do chủ thể nhất định thực hiện; - Về mặt không gian, hành vi phạm tội phải đƣợc thực hiện trên một lãnh thổ nào đó; và - Về mặt thời gian, điều khoản trong bộ luật hình sự đƣợc áp dụng phải trong thời gian hành vi phạm tội đƣợc thực hiện bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, tức là thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự chủ thể của tội phạm theo luật định vẫn còn.5 Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trƣờng đại học Luật Hà Nội, hiệu lực của đạo luật hình sự đƣợc xem xét dƣới hai khía cạnh: một là, hiệu lực của đạo luật hình sự về không gian (tức là đạo luật hình sự có hiệu 4 Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam, quyển 1 (phần chung), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.98 5 Xem: Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần chung), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.218 10 lực ở những nơi nào và đối với ai); hai là, hiệu lực của đạo luật hình sự về thời gian (tức là đạo luật hình sự có hiệu lực từ lúc nào).6 Tuy có cách diễn đạt khác nhau nhƣng các tác giả đều thống nhất rằng hiệu lực của đạo luật hình sự là phạm vi tác động về không gian và thời gian của đạo luật hình sự hoặc khả năng đƣợc áp dụng trên thực tế các quy định của đạo luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trong không gian và thời gian đƣợc xác định. Khái niệm hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự Hiệu lực theo không gian là một trong hai thành tố cấu thành nên nội hàm khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự. Trong khoa học pháp lý hình sự có khá nhiều cách thể hiện khái niệm về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự.
Theo tác giả Trần Thị Quang Vinh và Vũ Thị Thúy, hiệu lực của đạo luật hình sự theo không gian tức là hiệu lực đối với hành vi phạm tội xảy ra ở khu vực nào và đối với ai.7 Hay nói cách khác, đạo luật hình sự quốc gia có hiệu lực đối với hành vi phạm tội đƣợc thực hiện trong một không gian nhất định và một số ngƣời nhất định. Tác giả Đào Trí Úc cho rằng hiệu lực theo không gian tức là hiệu lực đƣợc xác định trên những phạm vi lãnh thổ nhất định.8 Theo tác giả Lê Cảm, hiệu lực của đạo luật hình sự theo không gian là thời điểm áp dụng một hoặc nhiều quy phạm cụ thể của luật hình sự đối với hành vi phạm tội tƣơng ứng đƣợc thực hiện bởi chủ thể nhất định trên một lãnh thổ nào đó. Nhƣ vậy, bản chất pháp lý của vấn đề hiệu lực của đạo luật hình sự theo không gian là áp dụng một hoặc nhiều điều luật cụ thể đƣợc quy định trong pháp luật hình sự của nơi tội phạm đƣợc thực hiện.9 6 Xem: Trƣờng đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập I, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.32 7 Xem: Trần Thị Quang Vinh, Vũ Thị Thúy (2008), Luật hình sự Việt Nam (phần chung), NXB Trẻ, tr.36 8 Xem: Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển I - Những vấn đề chung, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.393 9 Xem: Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.219 11 Nhƣ vậy, trên cơ sở tổng hợp các cách thể hiện khái niệm đã nêu, có thể định nghĩa hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự là phạm vi tác động về không gian của đạo luật hình sự hoặc khả năng đƣợc áp dụng trên thực tế các quy định của đạo luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trong không gian đƣợc xác định và gắn liền với một số ngƣời nhất định. Cơ sở của quy định về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự Trong khoa học pháp lý nói chung, các nguyên tắc của pháp luật đƣợc hiểu là những nguyên lý, tƣ tƣởng chỉ đạo, cơ bản, là “kim chỉ nam”, mang tính chất xuất phát điểm, phản ánh quy luật và cấu trúc của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và liên hệ chặt chẽ, mật thiết với bản chất của kiểu pháp luật tƣơng ứng với hình thái kinh tế - xã hội đó.
Các nguyên tắc của pháp luật nói chung có vai trò rất quan trọng trong việc chỉ đạo, định hƣớng và áp dụng vào toàn bộ các quá trình của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Các nguyên tắc còn thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung của pháp luật.10 Tƣơng tự nhƣ việc xây dựng các quy định pháp luật nói chung, việc xây dựng các quy định về hiệu lực theo không gian trong pháp luật hình sự của các quốc gia cũng đƣợc dựa trên những nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này đƣợc thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý hình sự và đƣợc áp dụng phổ biến trong các chế định về hiệu lực theo không gian của đạo luật hình sự các quốc gia trên thế giới, bao gồm bốn nguyên tắc: nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc bảo vệ quốc gia và nguyên tắc theo pháp luật quốc tế. Nguyên tắc lãnh thổ Lãnh thổ quốc gia là một phần Trái Đất, bao gồm vùng đất, vùng nƣớc, vùng trời và vùng lòng đất hoàn toàn thuộc chủ quyền một quốc gia.
Trong quan hệ giữa các quốc gia, lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, 10 Xem: Trƣờng đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Tƣ Pháp, tr.347-348 12 bởi đó là một trong bốn bộ phận cấu thành không thể thiếu và có quan hệ mật thiết với nhau của một quốc gia bất kỳ (lãnh thổ xác định, dân cƣ ổn định, chính phủ và khả năng quan hệ quốc tế). Trên hết, “lãnh thổ là cơ sở để duy trì ranh giới quyền lực nhà nƣớc đối với một cộng đồng dân cƣ nhất định, đồng thời tạo dựng và duy trì một trật tự pháp lý quốc tế hòa bình và ổn định trong quan hệ giao lƣu quốc tế”11. Theo pháp luật quốc tế, mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối với lãnh thổ của mình.