Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU LỰC THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hiệu lực thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với ngân hàng thương mại 1. Khái quát về Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và chức năng của Ngân hàng nhà nước Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng trung ương) là định chế duy nhất trong nền kinh tế vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh.
Ngân hàng trung ương là ngân hàng duy nhất được phép phát hành tiền của mỗi quốc gia, là một định chế công cộng chịu trách nhiệm trong việc quản lý và điều tiết các vấn đề liên quan đến tiền tệ, nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng. Theo Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” thì: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nạm, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước”. Tại Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ thay thế cho Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 về “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” thì: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nạm, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước”. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 quy định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”. Ở Việt Nam, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Với vị trí là cơ quan của Chính phủ nên NHNN Việt Nam còn có chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, NHNN Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước không chỉ thông qua các biện pháp hành chính mang tính cưỡng chế như các cơ quan quản lý hành chính nhà nước khác mà còn thông qua các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (tái cấp vốn cho các TCTD, quy định lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở) để tác động vào hệ thống tiền tệ và hoạt động của các TCTD.
Chức năng, nhiệm vụ của NHNN là kiểm soát trong phạm vi cả nước việc cung ứng tiền tệ, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ đó, NHNN có chức năng chủ yếu sau: - NHNN là ngân hàng của Nhà nước. Tài sản của Ngân hành Nhà nước là tài sản của Nhà nước. Với tư cách ngân hàng của Nhà nước, NHNN có nhiệm vụ và quyền hạn do Nhà nước qui định và thực hiện các dịch vụ tiền tệ, tín dụng, thanh toán cho Nhà nước.
- NHNN là ngân hàng phát hành, thể hiện ở việc độc quyền phát hành tiền để đảm bảo cho sự thống nhất và an toàn của hệ thống lưu thông tiền tệ quốc gia. - NHNN là ngân hàng của các ngân hàng, thể hiện ở chỗ: Các NHTM và các tổ chức tài chính - tín dụng khác phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán, thực hiện quy chế dự trữ bắt buộc tại NHNN; NHNN là trung gian thanh toán giữa các NHTM và TCTD; NHNN cấp tín dụng cho các NHTM và tổ chức tín dụng, qua đó điều tiết khối lượng tiền cung ứng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng bằng pháp luật và các công cụ của chính sách tiền tệ. Đó là việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các TCTD, hoạch định chính sách tiền tệ, tín dụng, kiểm soát tín dụng thông qua cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế.
- NHNN thực hiện thanh tra, kiểm tra hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền qui định. Khái quát về ngân hàng thương mại * Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại - Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm năm 2010 thì: “Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. - Đặc điểm của NHTM Thứ nhất: NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu. Hoạt động kinh doanh chủ yếu là huy động vốn để cấp tín dụng cho khách hàng (đi vay để cho vay).
Các hoạt động dịch vụ thông qua các nghiệp vụ có sắn về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối… nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng. Thứ hai: Hoạt động của NHTM phải tuân thủ theo qui định của pháp luật, tức là chỉ khi NHTM đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh… thì mới được phép hoạt động; Thứ ba: Hoạt động kinh doanh của NHTM có độ rủi ro cao hơn so với các hình thức kinh doanh khác và có ảnh hưởng sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế (Phan Thị Thu Hà, 2007). * Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại NHTM là trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, đó là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người đầu tư, đảm bảo cho nền kinh tế được mở rộng và phát triển.Rose 2004, ta có thể khái quát về ngân hàng hiện nay qua khái niệm sau: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính bao gồm nhiều loại hình tổ chức kinh doanh tiền tệ, chúng là những tổ chức trung gian và môi giới tài chính, hoạt động như những chiếc cầu chuyển tải những khoản tiết kiệm tích lũy trong xã hội đến tay người có nhu cầu chi tiêu đầu tư.
Các NHTM từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách thủ quỹ, bảo quản tiền cho chủ sở hữu để nhận các khoản thù lao đã trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi nhằm tối ưu khoản lợi nhuận thu được. Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các NHTM đã tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán như tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thanh toán bằng séc, tài khoản tiền gửi tiết kiệm thay bằng chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, các khoản huy động vốn vay thay bằng trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu,. Quá trình đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong giao lưu kinh tế là qua tiền ngân hàng. Do đó, hoạt động ngân hàng gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước, đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.
Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trong một vài lĩnh vực hẹp và theo hướng chuyên sâu. Các hoạt động nghiệp vụ cơ bản của NHTM gồm: nghiệp vụ đi vay và cho vay, nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ đầu tư tài chính, nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá, kinh doanh ngoại tệ,. * Các rủi ro cơ bản đối với ngân hàng thương mại Do NHTM là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt, hàng hóa là tiền tệ nên trong hoạt động của mình các NHTM luôn phải đối mặt với các rủi ro. Những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng mang tính đặc thù, chúng có thể phát sinh trong suốt quá trình hoạt động, ở tất cả các khâu, các lĩnh vực hoạt động.
Kinh nghiệm cho thấy không phải việc né tránh rủi ro mà chính là việc chấp nhận rủi ro mới là điều kiện cần thiết để đạt được kết quả hoạt động tốt dựa trên cơ sở quản lý rủi ro hiệu quả. Một ngân hàng hiện đại có thể sẽ phải đối mặt với các loại rủi ro cơ bản sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Rủi ro tín dụng là khả năng tổn thất khi một đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một tổ chức tín dụng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn do khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả hoặc không có khả năng trả nợ cho ngân hàng hoặc do khách hàng không muốn trả nợ.