CHƯƠNG 1 Đây là chương giới thiệu những khía cạnh cơ bản của đề tài nghiên cứu như tính cấp thiết của đề tài, thực trạng vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương này cho người đọc cái nhìn tổng quát nhất về đề tài nghiên cứu, từ đó có thể hiểu được nội dung của các chương tiếp theo. Trong chương tiếp theo, nhóm tác giả sẽ giới thiệu về Cộng đồng kinh tế ASEAN và những cơ sở lý thuyết về hiểu biết của giới trẻ Việt Nam về Cộng đồng kinh tế ASEAN từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỂU BIẾT CỦA GIỚI TRẺ VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2.
Tổng quan về Cộng đồng kinh tế ASEAN 2. Lịch sử hình thành Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập từ ngày 8 tháng 8 năm 1967 bởi 5 thành viên sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Sau gần 17 năm, vào ngày 8 tháng 1 năm 1984, Brunei chính thức trở thành thành viên thứ 6 của tổ chức này. Tiếp sau đó, Việt Nam gia nhập vào ngày 28 tháng 7 năm 1995, Lào và Myanmar ngày 23 tháng 7 năm 1997 và Campuchia vào ngày 30 tháng 4 năm 1999.
Như vậy, tính đến năm 1999, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á có tổng cộng 10 thành viên. Số thành viên không thay đổi từ đó đến nay. Kể từ khi thành lập, ASEAN luôn hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa đồng thời thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thông qua việc tôn trọng sự cai trị và nguyên tắc của các bên cũng như tuân thủ các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc. Ngoài việc ký kết các cam kết, hiệp định song phương và đa phương, ASEAN cũng lên kế hoạch hội nhập quốc tế trên nhiều phương diện, đặt biệt là kinh tế.
Khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra năm 1992, trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore. Hiệp định này nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông (Trung tâm WTO – VCCI, 2016). Cũng trong năm này, Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN 2010. Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN và Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN cũng lần lượt được ký kết lần lượt vào các năm 1995 và 1998.
Đây là những hiệp định làm nền tảng cho việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN sau này. Tháng 12 năm 1997, sau 30 năm ngày thành lập ASEAN, Lãnh đạo của 10 quốc gia Đông Nam Á đã thông qua văn kiện quan trọng Tầm nhìn ASEAN 2020, 7 với mục tiêu ". chuyển đổi ASEAN thành một khu vực ổn định, thịnh vượng, khả năng cạnh tranh cao với phát triển kinh tế công bằng, giảm đói nghèo và bất bình đẳng kinh tế - xã hội sự bất bình đẳng " (Guerrero, 2008). Tháng 10 năm 2003, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II), nhất trí hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội (ASCC).
Năm 2006, tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN. Để đẩy nhanh các nỗ lực thực hiện mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN, năm 2007, các nhà lãnh đạo ASEAN tham gia Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 tại Cebu, Philippines đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì 2020 như Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II được ký kết năm 2003. Ngày 22 tháng 11 năm 2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27. Theo đó, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015.
Đây là một cột mốc quan trọng, đánh dấu một bước tiến lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Cơ chế hoạt động của Cộng đồng kinh tế ASEAN Mỗi quốc gia có một trình độ phát triển và nguồn lực nhất định. Vì vậy, để phát huy đầy đủ các ưu thế, phân bổ hợp lý các yếu tố sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển, các quốc gia tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế. Liên kết kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế vượt ra khỏi lãnh thổ một quốc gia, được hình thành dựa trên sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên ở tầm vi mô hoặc vĩ mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế và thương mại phát triển (Võ Thanh Thu, 2008).
Có nhiều cách phân loại liên kết kinh tế quốc tế, bài nghiên cứu này sử dụng cách phân loại theo mức độ liên kết, theo đó, liên kết kinh tế quốc tế gồm 5 hình thức là Khu vực mậu dịch tự do, Liên minh thuế quan, Thị trường chung, Liên minh kinh tế và Liên minh tiền tệ.1: Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế Liên minh tiền tệ Liên minh kinh tế Thị trường chung Liên minh thuế quan Khu vực mậu dịch tự do (Nguồn: Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế) - Trong Khu vực mậu dịch tự do (FTA – Free Trade Area), các quốc gia thành viên sẽ giảm dần và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại thuế quan và các rào cản thương mại phi thuế quan đối giữa các thành viên nhưng vẫn duy trì được quyền độc lập tự chủ của mình trong quan hệ đối ngoại với các nước ngoài khối. - Liên minh thuế quan (CU – Customs Union) là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các quốc gia cam kết các nội dung hợp tác như trong FTA và áp dụng biểu thuế quan chung, các quy định phi thuế quan chung cho toàn khối trong quan hệ thương mại quốc tế. Điều đó có nghĩa là hàng hóa nhập khẩu từ các nước bên ngoài vào bất cứ nước nào thuộc liên minh sẽ phải chịu một mức thuế suất và các quy định phi thuế quan giống nhau. Như vậy, các nước thành viên áp dụng một chính sách thương mại thống nhất.
- Thị trường chung (CM – Common Market) là một liên minh thuế quan cho phép sự di chuyển tự do các yếu tố sản xuất là lao động và vốn. - Liên minh kinh tế (EU – Economic Union) là liên kết quốc tế ở mức độ cao hơn so với thị trường chung về sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, tư bản, công nghệ, thông tin và lực lượng lao động giữa các nước thành viên, thống nhất các chính sách kinh tế, tài chính và tiền tệ, thay thế một phần chức năng quản lý kinh tế của chính phủ từng nước nhằm tạo ra một không gian kinh tế thống nhất, 9 một cơ cấu kinh tế tối ưu, xóa bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước thành viên. - Liên minh tiền tệ (Monetary Union) là hình thức liên kết kinh tế quốc tế lớn nhất hiện nay với các đặc điểm giống liên minh kinh tế. Ngoài ra, còn một số đặc điểm khác như hình thành nên đồng tiền chung; sáp nhập qũy dự trữ ngoại hối; xây dựng hệ thống ngân hàng chung; xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng chung đối với các nước đồng minh và các tổ chức tiền tệ quốc tế, tiến tới thực hiện liên minh chính trị.
Có thể tóm tắt đặc trưng của các hình thức liên kết kinh tế quốc tế như sau: Bảng 2.1: Đặc trưng các hình thức liên kết kinh tế quốc tế Hình thức Thương Chính Dịch Chính sách Một liên kết kinh mại tự do sách chuyển tài khóa và chính tế quốc tế nội khối thương nhân tố sản tiền tệ phủ mại chung xuất tự do chung Khu vực mậu Có Không Không Không Không dịch tự do Liên minh Có Có Không Không Không thuế quan Thị trường Có Có Có Không Không chung Liên minh Có Có Có Có Không kinh tế Liên minh Có Có Có Có Có tiền tệ (Nguồn: El-Agraa, 1999) Theo kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint), Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập với 4 nội dung chính: xây dựng một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung; một khu vực kinh tế cạnh tranh; phát triển kinh tế cân bằng và hội nhập kinh tế toàn cầu. - Về nội dung xây dựng AEC thành một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, các nước ASEAN tạo điều kiện để hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động 10 có kỹ năng di chuyển tự do. Để tự do hóa thương mại hàng hóa, các thành viên ASEAN tham gia lộ trình cắt giảm thuế trong CEPT - ATIGA; cải cách hải quan và các biện pháp tạo thuận lợi thương mại khác. Hướng tới tự do hóa thương mại dịch vụ, các nước ASEAN tiến hành đàm phán 11 gói cam kết.
Các lĩnh vực dịch vụ được ASEAN ưu tiên tự do hoá gồm: điện tử, y tế, logistics, hàng không và du lịch. Trong tự do hóa đầu tư, tài chính và lao động, ASEAN chú trọng thúc đẩy đầu tư nội khối thông qua Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) với mục tiêu là tạo ra một cơ chế đầu tư tự do, mở cửa trong ASEAN được thực hiện thông qua việc tăng cường bảo vệ nhà đầu tư của các nước thành viên và các khoản đầu tư của họ; cải thiện tính minh bạch và khả năng dự đoán của các quy định và thủ tục đầu tư; hợp tác tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và thống nhất. - Nội dung xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế được thực hiện thông qua việc thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, năng lượng, phát triển thương mại điện tử.