PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài - Xuất phát từ vai trò và vị trí quan trọng của các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư (nhiệm vụ); - Các nhiệm vụ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các khó khăn/ thách thức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ở trong nước một cách nhanh chóng, hỗ trợ đột phá đi thẳng vào một số công nghệ mới, sản phẩm mới và tạo ra thị trường mới. Bên cạnh đó các nhiệm vụ còn hỗ trợ các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý nâng cao kinh nghiệm quản lý khoa học và công nghệ cũng như thực hiện công tác đối ngoại mà Đảng và Nhà nước giao phó. Tuy nhiên chưa có hệ thống tiêu chí riêng để xét duyệt cũng như quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư; - Trên cơ sở thực tế xét duyệt các nhiệm vụ trong thời gian qua theo các quy định hiện hành chỉ phù hợp với các nhiệm vụ được đặt hàng từ các Bộ, ngành, địa phương.
Trong khi đó còn một nhóm các nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở những thỏa thuận đã có của đối tác Việt Nam và nước ngoài về một số lĩnh vực có thể hợp tác cùng thực hiện.; - Câu hỏi xuất phát của tôi là: phải tạo ra hệ thống các tiêu chí như thế nào để có thể đồng nhất cơ chế xét duyệt cũng như quản lý các nhiệm vụ giữa Việt Nam và các đối tác nước ngoài? Làm sao để việc xét duyệt và đánh giá các nhiệm vụ có thể chọn ra các nhiệm vụ tốt nhất trong thời gian nhanh nhất nhằm nâng cao năng lực khoa học công nghệ của Việt Nam cũng như tận dụng tối đa các nguồn lực cũng như kinh nghiệm của đối tác nước ngoài; - Vấn đề ở đây là cần tạo một hệ thống tiêu chí để có thể đồng nhất cơ chế xét duyệt các nhiệm vụ giữa Việt Nam và đối tác nước ngoài. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lịch sử nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 là Phát triển đồng bộ khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới.
Theo đó, hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ là mục tiêu đồng thời là giải pháp quan trọng để góp phần đưa khoa học và công nghệ Việt Nam sớm đạt trình độ quốc tế. Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ phải được thực hiện tích cực, chủ động, sáng tạo, bảo đảm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi. Dựa trên các báo cáo đánh giá việc hội nhập khoa học và công nghệ thông qua các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN theo Nghị định thư của Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy rằng đây là loại hình hoạt động KH&CN mang tính chủ đạo để phát triển các hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ. Báo cáo cũng đánh giá trong thời gian qua việc xét duyệt các nhiệm vụ theo các quy định hiện hành gặp nhiều khó khăn, lúng túng.
Để thống nhất quản lý loại hình hoạt động này, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành "Thông tư Quy định quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư" (Thông tư số 12/2014/TT- BKHCN ngày 30/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) thay thế Quyết định quy định về việc xây dựng và quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư (Quyết định số 14/2005/QĐ- BKHCN ngày 08/9/2005 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ). Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đã được nghiên cứu nhiều cả về lý thuyết và thực tiễn, cụ thể như sau: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghiên cứu “Những chỉ tiêu đánh giá hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ” của hai tác giả Đặng Ngọc Dinh và Trần Chí Đức (2006) đã xác định tính khách quan của tiến trình hội nhập quốc tế về KH&CN, yếu tố lực đẩy từ quá trình toàn cầu hóa, cũng như sức mạnh tự thân của hoạt động KH&CN trong việc làm phong phú, sâu sắc hơn kho kiến thức của nhân loại. Hai tác giả cũng đã phân tích làm rõ những chỉ tiêu làm thước đo mức độ hội nhập, qua đó đánh giá và xác định được những ưu thế cũng như hạn chế để ban hành những chính sách, giải pháp phù hợp, kịp thời thúc đẩy quá trình hội nhập. Bên cạnh đó tác phẩm cũng làm nổi bật quan điểm chính sách đối ngoại, hoặc mối quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, cũng như về KH&CN của một quốc gia đối với các nước khác và cộng đồng quốc tế có thể được thực hiện theo một trong các quan điểm sau: xung đột; độc lập (tách biệt); hoặc hội nhập.
Trong đó, hội nhập, còn gọi là hội nhập quốc tế (HNQT - International Integration) bao gồm cả các hoạt động hợp tác (co-operation) và điều phối (co-ordination). Có thể nhận xét là: trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, hội nhập quốc tế là hợp tác quốc tế với mức độ sâu và rộng hơn, với các quy định mang tính chất cam kết nhiều hơn, cùng tạo ra những kết quả mà từng quốc gia riêng biệt không thể đạt được. - Trong Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với nước ngoài“ của tác giả Hà Thị Lâm Hồng đã trình bày cơ sở lý luận về hội nhập, hợp tác, hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với nước ngoài của Việt Nam; nêu kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn Quốc trong hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đối với Việt Nam. Trình bày thực trạng về hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với nước ngoài giai đoạn từ trước năm 2000 và giai đoạn từ năm 2000-2005 qua tìm hiểu các nhiệm vụ và hiệu quả của các nhiệm vụ hợp tác quốc tế thực hiện theo Nghị định thư; đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý các nhiệm vụ hợp tác 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với nước ngoài.
Từ đó đưa ra những quan điểm, mục tiêu, định hướng ưu tiên và đặc biệt là các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với nước ngoài: cải cách hành chính trong công tác quản lý, đề xuất mô hình quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ – Mô hình “Động học hệ văng”; - Đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam” (2012) của Trung tâm NC&PT hội nhập KH&CN quốc tế - Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra một cơ sở lý luận với mục tiêu chính là tạo lập được một hệ thống tiêu chí đánh giá khách quan về năng lực hội nhập quốc tế đối với các tổ chức KH&CN của Việt Nam, trước mắt là các tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp và y học, và sau đó là các tổ chức KH&CN trên các lĩnh vực khác nhau; - Đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ” (2012) của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ đã kịp thời xác định và đề xuất được các nguồn thông tin cốt lõi phục vụ hội nhập quốc tế về KH&CN, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tạp chí KH&CN Việt Nam để được lựa chọn vào chỉ mục ISI hoặc SCOPUS cũng như phát triển hệ thống tạp chí khoa học trực tuyến của Việt Nam. Các nghiên cứu trên đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật mới đã được ban hành để quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư thì chưa có công trình nào dành riêng để xây dựng hệ thống tiêu chí xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đề tài sẽ kế thừa những luận điểm đã được trình bày trong các nghiên cứu trên và vận dụng để nghiên cứu những bất cập trong việc xét duyệt các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư trong thời điểm hiện tại khi các thông tư và quy định mới đã được ban hành.
Đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chí xét duyệt nhằm tăng cường hiệu quả xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu: xây dựng hệ thống tiêu chí xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: - Phân tích cơ sở lý luận về tiêu chí và quy trình xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư; - Khảo sát và phân tích thực trạng hệ thống tiêu chí và quy trình xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư; - Đề xuất giải pháp xây dựng hệ thống tiêu chí nhằm nâng cao hiệu quả xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư.
Câu hỏi nghiên cứu Xét duyệt các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư là một hoạt động đặc thù, vậy tiêu chí để xét duyệt hiệu quả ở đây cần được hình thành theo nguyên tắc nào? 5.