Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm truyện kể dân gian Trong một số công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta, đôi khi khái niệm truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian được xem là đồng nhất với khái niệm truyện cổ tích. Người ta định nghĩa truyện cổ tích là truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian. Cách hiểu này không sai, nhưng nó sẽ trở nên phức tạp nếu ai đó hiểu theo điều ngược lại, tức cho rằng mọi câu chuyện đời xưa, mọi chuyện cổ dân gian đều là truyện cổ tích.
Nếu vậy truyền thuyết cũng là truyện đời xưa, là truyện cổ dân gian, suy ra truyền thuyết cũng là cổ tích. Một vấn đề khác, trong quá trình vận động nội tại theo trục thời gian, một bộ phận truyền thuyết dần lu mờ yếu tố lịch sử, bị chuyển hóa chức năng về thể loại, đã trở thành cổ tích. Thế nhưng, không ít người sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian vẫn “giam giữ” chúng trong kho truyền thuyết. hiện tượng trên, tuy không phổ biến nhưng vẫn là một khía cạnh phức tạp của vấn đề thể loại.
Điều này buộc người sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết phải nghiên cứu kỹ hơn mối quan hệ cũng như sự khác biệt giữa hai thể loại này, cũng như việc đồng nhất các truyền thuyết với thần thoại. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo lý thuyết folklore, truyền thuyết và cổ tích là hai loại khác biệt nhau rõ rệt. PGS Đỗ Bình Trị khẳng định: “Truyện cổ tích và truyền thuyết lịch sử là hai thể loại có sự khác biệt lớn về chức năng và thi pháp” Từ điển văn học cũng định nghĩa cụ thể từng khái niệm. Hầu hết giáo trình văn học dân gian đều có phần mục riêng về đặc điểm thi pháp của từng thể loại .Tuy vậy, ngay trong lý thuyết, vẫn còn vài điểm chưa minh bạch về mối quan hệ và ranh giới giữa hai thể loại này.Chu Xuân Diên nhận định “ Ở Việt Nam, đã từng có xu hướng không phân biệt truyện cổ tích và truyền thuyết về phương diện thể loại: hoặc hai loại truyện kể đó chỉ chỉ có sự khác biệt về trình độ phát triển, hoặc cho rằng không có thể loại truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn xuôi dân gian, do đó trong phân loại cũng như trong nghiên cứu đã gộp chung cả hai nhóm truyện đó làm một”.
Thực tế nhiều khi việc xác định một truyện cổ dân gian nào đó là truyền thuyết hay cổ tích thật không đơn giản. Xin nêu vài dẫn chứng như sau: Theo PGS. Đỗ Bình Trị, trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi, toàn bộ các truyện thuộc mục II (Sự thật đất nước Việt) và mục V (Sự tích anh hùng nông dân) được soạn giả đưa vào thể loại cổ tích, nhưng thực ra, tất cả “ đều là những truyền thuyết lịch sử”. Cho nên, PGS.
Đỗ Bình Trị đòi hỏi “ phải trả những truyện này về cho thể loại của nó” GS. Chu Xuân Diên cũng đồng quan điểm như vậy: “ Nguyễn Đổng Chi tuy có phân biệt với truyện cổ tích về mặt lý thuyết, song “ khi sưu tập”, ông vẫn “xếp chung truyền thuyết với cổ tích và coi như là những truyện cổ tích” Hoặc theo khảo sát của PGS.TS Nguyễn Xuân Đức, trường hợp truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cũng nhiều bất ổn: Sách Văn 10 (Nguyễn Đình 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chú chủ biên) xếp nó vào thần thoại, sách Truyện đọc 2 ( Trương Chính – Trịnh Mạnh biên soạn ) cho là cổ tích, còn sách Ngữ văn 6 ( Nguyễn Khắc Phi tổng biên ) thì gọi là truyền thuyết. Một trường hợp khác, truyện Bánh chưng bánh giày thì gọi là truyền thuyết hay cổ tích?. Thêm nữa, trường hợp truyện Chử Đồng Tử, do sự chuyển hóa về mặt thể loại mà đã có một Chử Đồng Tử - truyền thuyết lịch sử, ca ngợi người anh hùng chinh phục đầm lầy, nhưng cũng có một Chử Đồng Tử - cổ tích thần kỳ, với kiểu nhân vật chàng trai nghèo bất hạnh cưới công chúa.
Có điều, đâu là văn bản truyền thuyết Chử Đồng Tử.?Truyền thuyết là thể loại được quyền hư cấu nhưng bản thân câu chuyện luôn tạo được niềm tin, luôn gắn với niềm tin: “Cốt lõi của truyền thuyết thực sự là một đức tin” Truyền thuyết các DTTS còn có nhiều khó khăn vì khi sưu tầm, biên soạn, ngoài sự không phân biệt rõ thể loại , các nhà biên soạn thường không chú thích rõ truyện này của dân tộc nào.Truyền thuyết xuất hiện trong vùng có đồng bào các DTTS sinh sống không có nghĩa là truyền thuyết của dân tộc đó. Vì vậy trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc phân định đâu là truyền thuyết các DTTS và truyền thuyết này là của dân tộc nào? Truyền thuyết của các DTTS cũng thường được sưu tập trong các tập Truyện cổ. Vì vậy, để , khảo sát các truyền thuyết, chúng tôi đã lựa chọn các truyền thuyết, nhặt từng truyện trong các cuốn truyện cổ, truyện cổ tích của các DTTS đã xuất bản và ở một số công trình nghiên cứu về các dân tộc. Đặc biệt chúng tôi tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu, khảo sát, thống kê của PGS.TS Trần Thị An về các truyền thuyết DTTS được công bố gần đây ( năm 2009) trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 16: Cổ tích và truyền thuyết.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, truyện kể dân gian là một khái niệm rộng, được sử dụng bao hàm hầu hết các thể loại nằm trong loại hình tự sự dân gian, là những câu chuyện thuộc các thể loại: Thần thoại, Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện cười, Truyện ngụ ngôn, Giai thoại…. Khái niệm truyền thuyết Vấn đề thể loại truyền thuyết đã được bàn khá nhiều trong khoa nghiên sứu văn học dân gian ở nhiều nước. Trên thế giới, khoa học về truyền thuyết dân gian hay gọi tắt là truyền thuyết học, vốn là một thuật ngữ khoa học được dịch từ tiếng Đức: Volksagenkunde. Volki có nghĩa là dân gian; sagen có nghĩa là truyền thuyết; kunde có nghĩa là môn khoa học.
Đây là một thuật ngữ đã khá thông dụng trong folklrore học quốc tế thời cận đại. Tương đương với từ sage trong tiếng Đức, tiếng Anh có légend, tiếng Pháp có légende. Trước khi truyền thuyết được sưu tầm và ghi lại bằng văn tự, nó là một thể loại của văn học truyền miệng. Ở Việt Nam, trong những thập kỷ vừa qua, việc nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý thuyết về truyền thuyết cũng đã đạt được những thành tựu.
vai trò và vị trí của thể loại này đang ngày càng đựơc quan tâm và khẳng định trong loại hình tự sự dân gian. Đã có nhiều công trình đưa ra khái niệm về truyền thuyết: Ở mục “Truyền thuyết” trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân biên soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) thì tại những truyền thống văn hóa khác nhau về loại hình, khái niệm truyền thuyết có thể được mô tả những hiện tượng không hoàn toàn gống nhau, và liên hệ một cách khác nhau với thể loại dân gian khác, kể cả thần thoại. Về tổng thể, so với thần thoại thì truyền thuyết kém linh thiêng hơn và thường mô tả những sự kiện xảy ra muộn hơn sự lệ thuộc về nguồn gốc (biến sinh) của truyền thuyết với thần thoại có thể được xác định, tuy không phải thần thoại là 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguồn cốt truyện duy nhất của truyền thuyết. Truyền thuyết nằm ranh giới giữa thần thoại và các ghi chép mô tả lịch sử.
Nguyễn Đổng Chi trong lời tựa “ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam’ cho rằng: truyền thuyết thường dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử còn được quần chúng truyền lại nhưng không đảm bảo về mặt chính xác ( có thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do sự tưởng tượng của quần chúng phụ hoạ thêu dệt mà càng sai lạc hơn. Và truyền thuyết phần nhiều chưa được xây dựng thành truyện. Nó mới chỉ là những mẩu chuyện. Nếu nó phát triển tới mức hoàn chỉnh thì tuỳ theo nội dung, nó có thể trở thành cổ tích hay thần thoại.
Còn xét về nghệ thuật và ý nghĩa hoàn toàn giống cổ tích hay thần thoại. Hiện nay, truyền thuyết Việt Nam tìm được rất ít ỏi, đượm vị cổ tích nhiều hơn thần thoại. Vì vậy khi sưu tầm thì xen lẫn vào cổ tích và coi như truyện cố tích” [9, 9-22] Nhà nghiên cứu Phan Trần trong bài nghiên cứu “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử” đã nêu lên định nghiã về truyền thuyết : “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử. Những nhân vật và sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân” GS Đỗ Bình Trị trong cuốn giáo trình văn học dân gian, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, xuất bản năm 1970, khi viết về truyền thuyết cũng nêu định nghĩa : “ Truyền thuyết là những truyện có dính líu đếnn lịch sử mà lại có sự kỳ diệu – là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử” [46,73 ] Trong nhận xét của cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng, tuy không nhằm mục đích định nghĩa truyền thuyết, nhưng đã nêu khái quát về giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng thẩm mỹ của truyền thuyết: Những truyền thuyết 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên tác phẩm mà đời đời con cháu ưa thích” GS.TS Lê Chí Quế, trong bài nghiên cứu “Truyền thuyết, một thể loại văn học dân gian Việt Nam”, sau khi nêu lên bản chất thể loại của truyền thuyết, đã định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là một thể loại trong loạihình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [42, 114] Theo chúng tôi nghĩ, một hệ thống lý luận công phu nhằm nêu lên định nghĩa về truyền thuyết là các nghiên cứu của GS.TS Kiều Thu Hoạch: “ Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian.