Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội đóng vai trò nền tảng trong việc xác lập cơ sở lý luận, hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, sản phẩm của khoa học xã hội mang tính trừu tượng cao, đậm nét định tính và thường có độ trễ lớn trong việc ứng dụng vào đời sống. Tại Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên, trong giai đoạn 2007 - 2011, toàn trường đã triển khai 154 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, nhưng các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội chỉ đạt 23 đề tài, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 14,93%. Vấn đề bất cập nổi cộm là công tác đánh giá, nghiệm thu còn mang nặng tính ước lệ, thiếu hệ thống tiêu chí định lượng chuẩn mực, dẫn đến hiện tượng phần lớn các công trình đều được xếp loại Tốt hoặc Xuất sắc nhưng giá trị thực tiễn chưa tương xứng.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội rõ ràng, khách quan và có khả năng định lượng tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên. Phạm vi khảo sát tập trung vào thực trạng quản lý và nghiệm thu 154 đề tài nghiên cứu khoa học cùng dữ liệu của 89 cán bộ giảng viên khoa học xã hội tại nhà trường từ năm 2007 đến năm 2011. Đề tài mang ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập chuẩn mực đo lường chất lượng học thuật, giải quyết độ chênh lệch điểm số giữa các thành viên hội đồng đánh giá từ 2/10 điểm trở lên, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư ngân sách nghiên cứu và tạo động lực sáng tạo thực chất cho 287 cán bộ, giảng viên trong toàn trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai khung lý thuyết quản trị khoa học và phương pháp luận hiện đại. Thứ nhất là lý thuyết đánh giá nghiên cứu khoa học của Giáo sư Vũ Cao Đàm, tiếp cận công trình khoa học qua cấu trúc logic 5 thành phần: sự kiện khoa học, vấn đề khoa học, luận điểm khoa học, luận cứ khoa học và phương pháp nghiên cứu. Tiếp cận này phân định rõ giữa cách tiếp cận phân tích (chia nhỏ công trình theo từng yếu tố logic) và tiếp cận tổng hợp (xem xét tính mới, tính tin cậy, tính khách quan, tính trung thực và tính kế thừa). Theo tác giả Vũ Cao Đàm, "đánh giá là lượng định giá trị của kết quả nghiên cứu", đòi hỏi việc xem xét phải dựa trên giá trị tri thức mới chứ không phụ thuộc vào số trang báo cáo hay cấp hành chính quản lý. Thứ hai là mô hình đánh giá nghiên cứu và triển khai đa chiều của tác giả P. Fasella và Delcroix, nhấn mạnh sự phối hợp giữa đánh giá nội bộ với đánh giá độc lập từ chuyên gia bên ngoài theo chu kỳ tiến độ.

Hệ thống khái niệm cơ bản trong nghiên cứu bao gồm:

  • Khoa học: Hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất, tự nhiên, xã hội và tư duy được tích lũy có hệ thống.
  • Nghiên cứu khoa học: Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, đây là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và sáng tạo các giải pháp ứng dụng thực tiễn.
  • Kết quả nghiên cứu khoa học: Sản phẩm thông tin phản ánh bản chất của đối tượng nghiên cứu, chứa đựng tri thức khoa học mới.
  • Tiêu chí đánh giá: Hệ thống các dấu hiệu, chuẩn mực xác định được dùng làm căn cứ nhận biết, đo lường và xếp loại chất lượng công trình khoa học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong mốc thời gian 5 năm (2007 - 2011) tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên. Dữ liệu thứ cấp bao gồm 154 báo cáo nghiệm thu đề tài các cấp, báo cáo phân bổ ngân sách thường niên và số liệu nhân sự từ Phòng Hành chính - Tổ chức.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra xã hội học với quy trình chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích:

  • Cỡ mẫu điều tra bảng hỏi: Phát 45 phiếu khảo sát đến 45 cán bộ, giảng viên trực tiếp chủ nhiệm đề tài hoặc từng tham gia các hội đồng nghiệm thu khoa học xã hội.
  • Cỡ mẫu phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 12 người, bao gồm 02 cán bộ quản lý (01 Phó Trưởng phòng Đào tạo - NCKH & QHQT, 01 chuyên viên chuyên trách), 05 giảng viên là chủ nhiệm các đề tài cấp Bộ và cấp cơ sở, cùng 05 giảng viên có nhiều năm kinh nghiệm chấm nghiệm thu đề tài.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp định tính và phương pháp toán học thống kê định lượng là nhằm bảo đảm tính khách quan, xử lý triệt để các dữ liệu phi cấu trúc về ý kiến chuyên gia, đồng thời lượng hóa được độ tin cậy của các chỉ số đánh giá. Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia được áp dụng ở giai đoạn cuối nhằm thẩm định tính khả thi của hệ thống tiêu chí mới trước khi đưa vào áp dụng thử nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nhân lực khoa học xã hội tại nhà trường có quy mô trẻ nhưng trình độ sau đại học còn mỏng. Trong tổng số 287 cán bộ giảng viên toàn trường năm 2012, nhân lực khoa học xã hội có 89 người (chiếm 31,01%). Trình độ chuyên môn gồm: 0 Giáo sư/Phó Giáo sư, 06 Tiến sĩ (chiếm 6,74%), 13 nghiên cứu sinh (chiếm 14,61%), 18 Thạc sĩ (chiếm 20,22%), 34 người đang học cao học (chiếm 38,20%) và 18 Cử nhân (chiếm 20,22%). Tỷ lệ cán bộ chưa có bằng Thạc sĩ hoặc đang đi học chiếm tới 58,42%. Về độ tuổi, nhóm dưới 35 tuổi chiếm áp đảo với 91,8% (trong đó độ tuổi 25 - 30 chiếm 43,53%), và nữ giới chiếm 80,90% (72/89 người). Cơ cấu này lý giải vì sao kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chuyên sâu của đội ngũ còn hạn chế.

Thứ hai, sự mất cân đối nghiêm trọng về số lượng đề tài và kinh phí giữa khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Trong 5 năm (2007 - 2011), toàn trường thực hiện 154 đề tài thì khoa học xã hội chỉ chiếm 23 đề tài (14,93%), gồm 15 đề tài cấp cơ sở, 06 đề tài cấp Bộ và 02 đề tài cấp Đại học; hoàn toàn không có đề tài cấp Nhà nước nào (0/3 đề tài). Kinh phí đầu tư cho khoa học xã hội chỉ chiếm dưới 8% tổng ngân sách khoa học công nghệ của trường, trong khi năm 2010 tổng kinh phí toàn trường là 2.027 triệu đồng và năm 2011 lên tới 3.766 triệu đồng. Đề tài khoa học xã hội cấp cơ sở chỉ nhận kinh phí rất thấp, dao động từ 5 đến 10 triệu đồng mỗi đề tài.

Thứ ba, nội dung nghiên cứu khoa học xã hội cấp cơ sở bị thu hẹp vào hoạt động nghiệp vụ sư phạm. Trong số 99 đề tài cấp cơ sở toàn trường, có tới 64 đề tài nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm và 35 đề tài xây dựng giáo án điện tử phục vụ chuyển đổi phương thức đào tạo tín chỉ từ năm học 2008 - 2009. Các công trình mang tính phát hiện quy luật kinh tế - xã hội vùng Trung du miền núi phía Bắc còn rất khiêm tốn.

Thứ tư, công tác đánh giá nghiệm thu tồn tại nhiều bất cập do khung tiêu chí lạc hậu. Theo khung đánh giá cũ căn cứ Quyết định số 96/QĐ-BKHCN năm 2006, tiêu chí tính mới và sáng tạo chỉ chiếm tối đa 10/100 điểm. Điều này dẫn đến nghịch lý là một đề tài dù không có đóng góp mới nào vẫn dễ dàng đạt 90/100 điểm và được xếp loại Tốt hoặc Xuất sắc. Khảo sát 45 chuyên gia cho thấy có tới 82,2% ý kiến khẳng định bảng điểm hiện tại mang nặng tính cảm tính, thiếu chuẩn mực định lượng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng xếp loại đề tài nghiêng hẳn về mức Xuất sắc và Tốt phản ánh sự nể nang đồng nghiệp và thiếu vắng các chuẩn đo lường định tính - định lượng kết hợp. Các dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua Biểu đồ so sánh kinh phí phân bổ theo năm và Bảng ma trận chênh lệch điểm số thành viên hội đồng. Khi phân tích bảng điểm nghiệm thu, hiện tượng chênh lệch điểm giữa hai ủy viên phản biện từ 2/10 điểm trở lên xuất hiện ở 37,5% các hội đồng nghiệm thu khoa học xã hội, chứng minh tính chủ quan của người chấm khi không có thang đo chi tiết.

So sánh với các nghiên cứu của Giáo sư Hồ Tú Bảo về độ đo định lượng và Tiến sĩ Phạm Thị Ly về đặc thù ấn phẩm khoa học xã hội, việc áp dụng máy móc quy chuẩn khoa học tự nhiên vào khoa học xã hội là nguyên nhân triệt tiêu động lực nghiên cứu. Đề tài khoa học xã hội không thể đo đếm đơn thuần bằng số lượng trang viết hay hiệu quả kinh tế tức thì, mà cần đánh giá thông qua giá trị tri thức mới, tính chuẩn mực của phương pháp và tiềm năng tác động chính sách xã hội dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội mới với cấu trúc điểm số tái cấu trúc. Nâng tỷ trọng tiêu chí "Tính mới và giá trị tri thức khoa học" từ 10 điểm lên 35 - 40/100 điểm, hoặc thiết lập tiêu chí này thành điều kiện tiên quyết (nếu không đạt tính mới thì không tiến hành chấm các bước tiếp theo). Tiêu chí "Phương pháp nghiên cứu và tính logic của luận cứ" chiếm 30 điểm; tiêu chí "Giá trị ứng dụng và tác động xã hội" chiếm 20 điểm; tiêu chí "Hình thức và quy chuẩn trích dẫn khoa học" chiếm 10 - 15 điểm. Thời gian hoàn thành: Quý I/2014. Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu phối hợp Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ.

Thứ hai, chuẩn hóa thành phần và quy trình làm việc của Hội đồng nghiệm thu. Quy định bắt buộc tối thiểu 40% thành viên hội đồng (ít nhất 01 ủy viên phản biện) phải là chuyên gia độc lập ngoài trường có học vị Tiến sĩ hoặc học hàm Phó Giáo sư đúng chuyên ngành hẹp. Biên bản nghiệm thu phải loại bỏ các điểm số có độ lệch vượt quá 1,5/10 điểm so với điểm trung bình trước khi tính điểm chính thức. Thời gian triển khai: Áp dụng từ kỳ nghiệm thu năm 2014. Chủ thể thực hiện: Phòng Đào tạo - NCKH & QHQT.

Thứ ba, tái cơ cấu nguồn vốn đầu tư và nâng định mức kinh phí cho các đề tài khoa học xã hội. Nâng tỷ lệ ngân sách phân bổ cho khối ngành khoa học xã hội lên mức tối thiểu 20 - 25% tổng kinh phí nghiên cứu khoa học hàng năm của nhà trường. Nâng định mức hỗ trợ đề tài cấp cơ sở từ mức 5 - 10 triệu đồng lên 20 - 30 triệu đồng/đề tài, đồng thời cấp kinh phí bổ sung cho các công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2014 - 2016. Chủ thể thực hiện: Phòng Kế hoạch - Tài chính.

Thứ tư, đẩy mạnh bồi dưỡng năng lực phương pháp luận và kỹ năng nghiên cứu cho cán bộ trẻ. Tổ chức thường niên 02 khóa tập huấn chuyên sâu về phương pháp nghiên cứu định lượng trong khoa học xã hội, kỹ thuật xử lý dữ liệu và phương pháp viết bài báo khoa học chuẩn mực cho 89 cán bộ giảng viên khoa học xã hội, đặc biệt là nhóm 58,42% giảng viên đang học cao học hoặc cử nhân. Chỉ tiêu target: 100% cán bộ dưới 35 tuổi chủ trì ít nhất 01 đề tài cấp cơ sở trước năm 2016. Chủ thể thực hiện: Các Khoa chuyên ngành khoa học xã hội phối hợp cùng Phòng Quản lý Khoa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà quản lý khoa học, Ban Giám hiệu và lãnh đạo Phòng Nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, cao đẳng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng quy chế nghiệm thu, thiết lập barem chấm điểm đề tài khoa học xã hội và đổi mới cơ chế phân bổ tài chính nghiên cứu khoa học.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu viên thuộc khối ngành khoa học xã hội và nhân văn: Nắm vững cấu trúc logic 5 thành phần của một công trình nghiên cứu, từ đó biết cách xây dựng đề cương, phát triển luận cứ khoa học và hoàn thiện báo cáo tổng kết đạt chuẩn chất lượng học thuật.

Thứ ba, các nhà khoa học, thành viên tham gia các hội đồng tư vấn, phản biện và nghiệm thu đề tài khoa học: Ứng dụng khung tiêu chí định lượng để đánh giá khách quan, giảm thiểu sai số và tính cảm tính cá nhân trong quá trình chấm điểm các công trình khoa học xã hội.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý Giáo dục: Khai thác hệ thống khung lý thuyết, phương pháp tiếp cận phân tích - tổng hợp và số liệu thực chứng 5 năm tại một trường đại học khu vực trung du miền núi phía Bắc để phục vụ các nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tiêu chí tính mới cần được đặt làm trọng tâm hàng đầu khi đánh giá đề tài khoa học xã hội? Bản chất của nghiên cứu khoa học là sáng tạo tri thức mới. Trong khoa học xã hội, nếu công trình chỉ dừng lại ở việc tổng thuật tài liệu cũ mà không phát hiện quy luật mới hoặc giải pháp mới thì không có giá trị học thuật. Việc nâng tỷ trọng tính mới lên 35 - 40/100 điểm giúp loại bỏ hoàn toàn các đề tài sao chép, kém chất lượng.

Có nên lấy tiêu chuẩn đã được ứng dụng ngay vào thực tế làm thước đo bắt buộc cho đề tài khoa học xã hội không? Tuyệt đối không nên xem việc ứng dụng ngay là tiêu chuẩn cứng. Kết quả nghiên cứu khoa học xã hội có độ trễ áp dụng rất lớn, nhiều luận điểm lý luận phải mất hàng chục năm kiểm nghiệm thực tiễn mới được đưa vào chính sách. Đánh giá khoa học xã hội cần tập trung vào giá trị tri thức và độ tin cậy của luận cứ khoa học.

Tại sao số lượng đề tài khoa học xã hội tại Trường Đại học Khoa học giai đoạn 2007 - 2011 lại thấp hơn nhiều so với tự nhiên? Số liệu thực tế chỉ ra hai nguyên nhân chính: Đội ngũ nhân lực khoa học xã hội của trường còn rất trẻ với 91,8% dưới 35 tuổi và 58,42% đang học hoặc chưa có bằng thạc sĩ nên kinh nghiệm viết thuyết minh còn hạn chế. Thêm vào đó, kinh phí đầu tư cho khoa học xã hội chỉ chiếm dưới 8% tổng ngân sách nghiên cứu của trường.

Cấu trúc logic 5 thành phần trong đánh giá một công trình khoa học gồm những yếu tố nào? Cấu trúc logic do Giáo sư Vũ Cao Đàm đề xuất bao gồm: Sự kiện khoa học (cơ sở chọn đề tài khách quan), Vấn đề khoa học (câu hỏi nghiên cứu cấp thiết), Luận điểm khoa học (giải thuyết được chứng minh), Luận cứ khoa học (bằng chứng trung thực, đủ độ tin cậy) và Phương pháp nghiên cứu (công cụ thu thập và xử lý dữ liệu phù hợp).

Thành viên hội đồng đánh giá cần đáp ứng những tiêu chuẩn chuyên môn cụ thể nào? Hội đồng phải có cơ cấu chuyên môn đúng chuyên ngành hẹp của đề tài. Với đề tài cấp cơ sở và cấp Bộ, ủy viên phản biện cần có trình độ Tiến sĩ trở lên, có công trình công bố liên quan trong 3 năm gần nhất. Cần có ít nhất 40% thành viên ngoài đơn vị để bảo đảm tính khách quan, triệt tiêu sự nể nang.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc cơ sở lý luận và đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội, khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng khung tiêu chí đánh giá chuyên biệt.
  • Khảo sát thực chứng giai đoạn 2007 - 2011 tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên cho thấy sự bất cập khi khoa học xã hội chỉ chiếm 14,93% tổng số đề tài và nhận dưới 8% kinh phí đầu tư R&D.
  • Đã chỉ rõ lỗ hổng trong công tác nghiệm thu theo khung điểm cũ khiến 100% đề tài đều xếp loại Tốt/Xuất sắc dù tiêu chí tính mới chỉ chiếm 10/100 điểm.
  • Xây dựng thành công hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội mới với cấu trúc trọng số khoa học, nâng điểm tính mới lên 35 - 40 điểm và chuẩn hóa quy trình hội đồng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về tiêu chí, nhân lực, tài chính và đào tạo với lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2014 đến năm 2016.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp một công cụ quản lý khoa học có tính định lượng cao, khắc phục triệt để tính ước lệ trong đánh giá học thuật khoa học xã hội tại các trường đại học địa phương. Các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu cần nhanh chóng rà soát, áp dụng thử nghiệm hệ thống tiêu chí này vào kỳ nghiệm thu khoa học sắp tới nhằm nâng cao chất lượng công bố và hiệu quả đầu tư chất xám.