CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Sự hình thành và phát triển lý thuyết kiểm soát rủi ro: 1.1 Sự hình thành và phát triển lý thuyết rủi ro: Trong bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống, từ kinh tế tới chính trị - văn hóa – xã hội hay trong cuộc sống thường ngày, con người luôn phải đối mặt với những sự kiện bất ngờ xảy đến, những nguy hiểm, những bất trắc mà đôi khi chúng ta không mong đợi. Những sự kiện đó khi xảy ra có thể mang đến những thiệt hại cả về vật chất, sức khỏe, tinh thần và tính mạng con người. Người ta gọi đó là rủi ro. Thực tế cho thấy rủi ro là không thể tránh khỏi.
Thuật ngữ “rủi ro” được đề cập từ rất sớm và gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế. Rủi ro tồn tại trong tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Rủi ro và kiểm soát rủi ro đã được tổng hợp thông qua kết quả nghiên cứu của John Haynes, Frank H.Knight, Irving Pfeffer. John Haynes (1895) John Haynes là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về rủi ro.
Rủi ro theo ông là khả năng xảy ra những hư hỏng hay mất mát một cách tình cờ, còn sự kiện không chắc chắn được coi là rủi ro khi nó có những tác động xấu đến kết quả của đơn vị. Ông cho rằng những nhà tư bản – người đầu tư tài sản vào đơn vị – sẽ gánh chịu rủi ro liên quan đến đơn vị. Knight (1921) Theo Frank H. Knight thì rủi ro là sự kiện trong tương lai mà có thể đo lường được sự tác động, còn sự kiện không chắc chắn là những sự kiện mà không thể đo lường được sự tác động.
Mặt khác, ông cũng cho rằng rủi ro liên quan đến tổn thất còn sự kiện không chắc chắn liên quan đến những lợi ích mà đơn vị gặp phải trong tương lai. [18] Irving Pfeffer (1956) Irving Pfeffer đã tiếp tục quan điểm của Knight và theo ông thì rủi ro là sự kết hợp của các nguy hại và được đo lường bởi xác suất xảy ra, còn sự kiện không chắc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 chắn được đo lường bởi mức độ niềm tin. Rủi ro là trạng thái khách quan, còn sự kiện không chắc chắn là trạng thái chủ quan. [18] Trong Báo cáo năm 2004 Ủy ban COSO đã đưa ra định nghĩa rủi ro một cách hoàn chỉnh và đầy đủ.
Rủi ro là khả năng một sự việc có thể xảy ra và tác động đến việc hoàn thành được các mục tiêu đã đề ra của một tổ chức. [15] Như vậy các quan điểm về rủi ro theo thời gian đã có một sự chuyển biến to lớn, từ chỗ xem rủi ro là việc xuất hiện tổn thất một cách tình cờ đến việc dự báo rủi ro, từ chỗ xem rủi ro là những gì có thể đo lường được đến việc ý thức được những rủi ro không thể đo lường, từ chỗ chỉ xem xét tổn thất của rủi ro đến việc đánh giá lợi ích, từ việc xem xét các rủi ro riêng lẻ đến xem xét cùng lúc nhiều rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống và vào bất cứ thời điểm nào. Trong lĩnh vực kinh doanh, dù không được mong đợi, rủi ro vẫn luôn hiện diện trong mọi quyết định của các doanh nghiệp.
Tùy theo mức độ, rủi ro có thể gây ra những thiệt hại về tài chính và cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khánh kiệt, thậm chí phá sản. Đo lường rủi ro trong kinh doanh (risk) được hiểu là việc lượng hóa khả năng xảy ra những thiệt hại hoặc lợi nhuận thu về thấp hơn so với dự kiến. Trong kinh doanh, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng phải đối mặt với rủi ro. Tìm kiếm lợi nhuận càng lớn cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với rủi ro càng lớn.
Hầu như trong tất cả công việc được tiến hành nhằm mục đích kinh doanh đều tiềm ẩn những rủi ro nào đó: môi trường kinh doanh thay đổi, thói quen của khách hàng thay đổi, sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh, sự xuất hiện của những nhân tố mới nằm ngoài khả năng kiểm soát… Theo Kiser và Cantrell (2006), sự gia tăng về những biến động về kinh tế, chính trị, quân sự và tội phạm làm cho việc quản lý rủi ro trong kinh doanh ngày càng cần được chú trọng hơn. Các rủi ro này nếu không được quản lý thích đáng có thể dẫn đến những hậu quả không tốt về tài chính, thậm chí là phá sản. [30] Trong lĩnh vực kinh doanh, có hai nguồn rủi ro chính là rủi ro bên ngoài và rủi ro bên trong. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Rủi ro bên ngoài thường là các rủi ro phát sinh từ các khâu thượng nguồn hay hạ nguồn của chuỗi cung ứng.
Tương ứng, có hai nhóm rủi ro chính là rủi ro thị trường (như rủi ro do không nắm bắt được hoặc hiểu sai nhu cầu thị trường) và rủi ro cung ứng (những bất thường trong quá trình tạo nguồn). Các rủi ro này có thể có nguồn gốc từ môi trường vĩ mô (như tự nhiên, kinh tế, chính trị - pháp luật, văn hóa - xã hội, công nghệ gây ra), từ môi trường tác nghiệp (các đối tác cung cấp hàng hoá, dịch vụ, cơ sở hạ tầng). Rủi ro bên trong bao gồm những rủi ro xảy ra trong phạm vi của công ty. Các rủi ro này được gọi là rủi ro vận hành.
Nhóm rủi ro này có nguồn gốc từ quy trình sản xuất không đảm bảo, nhân sự thiếu năng lực, cấu trúc báo cáo không chặt chẽ, thiếu sự kiểm soát hoặc chủ quan. Theo Manuj và Mentzer (2008), trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, rủi ro có thể chia thành ba nhóm chính. Các nhóm này bao gồm: + Rủi ro cung ứng: sự đình trệ trong cung cấp, biến động giá cả nguyên liệu, sự không ổn định của chất lượng đầu vào, sự biến động về nguồn nguyên liệu. + Rủi ro vận hành: các cơ sở sản xuất hư hỏng, năng lực sản xuất hay chế biến không đảm bảo, sự thay đổi công nghệ.
+ Rủi ro về cầu: sự xuất hiện của các sản phẩm mới, sự thay đổi của nhu cầu.2 Sự hình thành và phát triển lý thuyết kiểm soát rủi ro: Thuật ngữ KSRR được hình thành từ rất sớm cùng với sự ra đời của các công ty bảo hiểm. Để kiểm soát rủi ro các doanh nghiệp mua các dịch vụ bảo hiểm để chuyển giao toàn bộ hoặc một phần thiệt hại về tài sản cho các doanh nghiệp bảo hiểm khi phát sinh tổn thất. Sự ra đời của các công ty bảo hiểm đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã biết sử dụng các công cụ để KSRR ngay từ rất xa xưa. Các tài liệu tìm thấy ở công ty bảo hiểm Hammurabi cho thấy rằng dịch vụ bảo hiểm đã tồn tại cách đây khoảng 3.
[18] Khi hoạt động kinh doanh càng mở rộng và phát triển, đặc biệt với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều loại rủi ro mới và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phức tạp hơn, các công cụ KSRR bắt đầu được xây dựng để phục vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp. Đầu thập niên 1950, lý thuyết về danh mục đầu tư của Harry Markowitz đề cập đến việc đo lường và KSRR. Theo đó, có sự liên hệ giữa rủi ro và lợi ích kỳ vọng của một phương án, nhà đầu tư nên kết hợp nhiều phương án khác nhau để tối đa lợi ích và kiểm soát được rủi ro của mình. Công cụ bảo hiểm và tái bảo hiểm được các doanh nghiệp sử dụng rộng rãi vào những năm 1970 cùng với các công cụ phái sinh để dự phòng cho những biến động về giá cả thị trường.
Sự kết hợp công cụ bảo hiểm và công cụ phái sinh dẫn đến việc áp dụng hình thức dịch vụ thuê ngoài ở các doanh nghiệp lớn nhằm chuyển giao rủi ro cho các đối tác bên ngoài khi doanh nghiệp thấy việc thực hiện không còn hiệu quả. Quá trình phát triển của các công ty ở Hoa Kỳ chứa đựng nhiều gian lận gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế. COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính. Hội đồng quốc gia này được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức: Hiệp hội kế toán viên Công chứng Mỹ (AICPA), Hội Kế toán Mỹ (American Accounting Association), Hiệp hội Quản trị viên Tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán viên Quản trị (IMA), Hiệp hội Kiểm toán viên Nội bộ (IIA).
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về gian lận, COSO đã nhận thấy KSNB ảnh hưởng đến khả năng xảy ra gian lận. Báo cáo COSO năm 1992 là kết quả của quá trình nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Theo COSO, KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi các nhà quản lý và các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, thông tin đáng tin cậy, tuân thủ các luật lệ và quy định; gồm năm bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. [1] Báo cáo này không mang tính bắt buộc như chuẩn mực mà chủ yếu mang tính hướng dẫn, giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu.
Đến năm 1998, trên cơ sở Báo cáo COSO về KSNB năm 1992, Ủy ban Basel ban hành báo cáo Basel về KSNB tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng. [13] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Năm 2000, Ủy ban Basel ban hành báo cáo bổ sung liên quan đến kiểm toán nội bộ, quan hệ giữa kiểm toán viên và ngân hàng. Báo cáo Basel xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu, chủ yếu kiểm soát các rủi ro liên quan đến tín dụng. Tuy nhiên, báo cáo Basel có hạn chế là chưa mở rộng phạm vi ra các loại hình doanh nghiệp khác trong việc KSRR.
Đây là kết quả từ công tác nghiên cứu chung của các doanh nghiệp lớn ở Vương quốc Anh, bao gồm Viện Quản trị rủi ro (Intitute of Risk Management), Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm và rủi ro (AIRMIC) và Diễn đàn quốc gia về công tác KSRR đối với khu vực kinh tế (ALARM). Chuẩn mực Quản lý rủi ro đã đưa ra một hệ thống lý luận về KSRR đầy đủ hơn cho loại hình doanh nghiệp.