mở đầu những truyền thống lớn của dòng văn học viết, ta thấy bên cạnh những câu thơ mang tính triết lý của Phật giáo có khá nhiều câu thơ viết về phong cảnh thiên nhiên: Xuân hoa dữ hồ điệp, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 http://www.vn Cơ luyến cơ tương vi Dịch: (Hoa xuân và bƣơm bƣớm Hầu quyến luyến nhau lại hầu xa rời nhau) Hay: Giác hưởng tùy phong xuyên trúc đáo Sơn nham đái nguyệt quá tường lai Dịch: (Tiếng tù và theo gió luồn trúc mà đến Ngọn núi cao cõng trăng vƣợt tƣờng mà qua) (Thiền sƣ Viên Chiếu) Qua việc miêu tả thiên nhiên, tác giả cũng muốn giảng giải cho các đệ tử của mình về lẽ đạo, quan niệm về sự tƣơng đồng giữa vạn vật và con ngƣời, tạo nên sự hòa đồng giữa con ngƣời và thiên nhiên. Từ lòng yêu thiên nhiên, con ngƣời luôn muốn giữ lại cái phần tƣơi trẻ nhất, tốt đẹp nhất, xuân sắc nhất, thể hiện lòng ham sống và yêu đời của mình: Xuân qua lại, ngỡ xuân tàn Hoa dù rụng nở, vẫn hoàn tiết xuân. (Chân Không) Hoặc: Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai (Mãn Giác) Có thể thấy thơ viết về chủ đề thiên nhiên ra đời từ khá sớm trong nền văn học viết Việt Nam. Tuy nhiên, những bài thơ Thiền tông đời Lý nói đến thiên nhiên hiện nay không còn lƣu giữ đƣợc bao nhiêu.
Khi đề cập đến thơ thiên nhiên, các thiền sƣ đều muốn qua đó gửi gắm những quan điểm triết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 http://www.vn học, đặc biệt là quan điểm vạn vật nhất thể của Thiền tông, tạo ra sự hòa đồng giữa nhà thơ và thiên nhiên. Sự hòa đồng này làm cho thiên nhiên đƣợc nhận thức một cách sâu sắc và độc đáo hơn, in dấu cá tính sáng tạo của tác giả. Thơ viết về thiên nhiên sang đời Lê vẫn chiếm một vị trí lớn trong sáng tác của các thi sĩ. Lê Thánh Tông là một trong những tác giả có nhiều thơ viết về thiên nhiên.
Thơ phong cảnh của ông có nhiều bài rất nên thơ mà cũng ngập tràn cảm xúc về thực tiễn xã hội và cuộc sống con ngƣời: Mênh mang khóm nước nhuộm màu lam, Chất ngất đỉnh non lồng bóng quế. Chợ họp bên sông gẫm có chiều, Thuyền bày trên đất xem nhiều thế. Cảnh vật bằng đây họa có hai, Vì dân khoan giảm bên tô thuế. (Vịnh làng Chế - Lê Thánh Tông) Đó là bức tranh tƣơi vui về cuộc sống của một làng quê.
Nhà thơ yêu mến cảnh thiên nhiên hùng vĩ, mỹ lệ nhƣng hơn tất cả, đó là niềm vui sƣớng khi thấy cảnh xã hội sầm uất với những buổi chợ nhiều ngƣời mua bán, biểu tƣợng của cuộc sống yên vui. Nói tới thơ thiên nhiên ở giai đoạn này, ta không thể không nhắc tới đại thi hào Nguyễn Trãi. Trong sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm, ông đều có một số lƣợng lớn các tác phẩm viết về chủ đề thiên nhiên. Thiên nhiên trong thơ ông vừa kỳ vĩ, vừa mĩ lệ: Dục Thúy vũ đình, phong tự ngọc, Đại An triều trướng, thủy như thiên Dịch: (Núi Dục Thúy, mƣa tan, đỉnh tựa ngọc, Cửa Đại An, triều nổi, nƣớc nhƣ trời) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 http://www.vn (Vọng Doanh) Thơ Nguyễn Trãi không những có tính chất hoành tráng mà lại còn bộc lộ tâm hồn đa cảm của một con ngƣời đầy lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời, yêu con ngƣời: Tiếc thiếu niên qua lật hạn lành, Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình.
Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc, Đầu bạc xưa nay có thuở xanh (Tích cảnh, bài 4) Đặc biệt, giữa nhà thơ và thiên nhiên đã có sự thân thiết gắn bó nhƣ những ngƣời bạn tri kỷ: Bẻ cái trúc hòng phân suối, Quét con am để chừa mây. Trì tham nguyệt hiện, chăng buông cá, Rừng tiếc chim về, ngại phát cây. ( Mạn thuật, bài 6) Nhà thơ đã quét am để đón mây, dành ao để chờ trăng, giữ rừng để đợi chim. Với nhà thơ, thiên nhiên đã trở nên gắn bó nhƣ ngƣời bạn tâm tình.
Tiếp sau những thành công của Nguyễn Trãi, phải kể đến Hồng Đức quốc âm thi tập. Hồng Đức quốc âm thi tập là bƣớc tiến mới của thơ tiếng Việt sau Nguyễn Trãi. Tập thơ đƣợc chia thành năm phần: Thiên địa môn (59 bài); Nhân đạo môn (42 bài); Phong cảnh môn (66 bài); Phẩm vật môn (49 bài); Nhàn ngâm chủ phẩm (88 bài). Qua khảo sát tập thơ, chúng tôi thấy có một số lƣợng lớn tác phẩm viết về phong cảnh thiên nhiên.
Đó là cảnh trí có thể ở Trung Quốc hoặc ở trong nƣớc nhƣ Tiêu tương bát cảnh, Đào Nguyên bát cảnh, Tứ thú (Ngƣ, tiều, canh mục) các sông núi, đền chùa, các cảnh thơ mộng nhƣ Tàn xuân lữ xá, Sơ thu lữ xá…Tuy nhiên, trong Hồng Đức quốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 http://www.vn âm thi tập, nhiều tác giả không ghi tên, họ là các nhân sĩ thời Hồng Đức chủ yếu nằm trong Hội Tao đàn do vua Lê Thánh Tông làm chủ soái. Trƣớc Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ viết về chủ đề thiên nhiên đã có bề dày lịch sử nên sau này dù ít hay nhiều thơ của ông cũng chịu ảnh hƣởng của các bậc tiền bối đi trƣớc.3 Chủ đề đời tư So với chủ đề vịnh vật và chủ đề thiên nhiên thì chủ đề đời tƣ xuất hiện muộn hơn cả. Khi xem xét thơ ca thời Lý – nền thơ ca đầu tiên trong văn học viết Việt Nam, ta thấy trừ một số bài thơ khuyết danh ở cuối thời Lý phần nào có thể hiện tâm trạng cá nhân con ngƣời, còn lại hầu hết là thơ Thiền – thơ ca tôn giáo có tính “phi ngã” cao. Điều này là do mục đích chính các vị Thiền sƣ làm thơ không phải để nói lên cảm xúc của mình mà để hƣớng tới những triết lý cao siêu, vĩnh hằng, bất sinh bất diệt.
Thế nhƣng, trong những phút giây “đốn ngộ” của kẻ chân tu, lời thơ của họ lại nói biểu hiện những suy tƣ của một con ngƣời cá nhân. Đó là những mặc cảm hối lỗi của Trần Thái Tông trong Khoá hư lục; hay là khát khao “đập phá quan niệm lưỡng nguyên”, “phá vỡ những quan niệm giả tạo của đời sống đạo ” để “ca lên khúc nhạc huyền diệu của muôn đời” trong Diêu khúc bản lai tu cử xướng và Phóng cuồng ca của Trần Tung. Không chỉ có vậy, lâu nay, khi nói tới thơ ca trung đại nói chung, ngƣời ta thƣờng nói tới tính chất “phi ngã” đồng nghĩa với quan niệm “không có cái tôi cá nhân” trong thơ. Tuy nhiên, tính chất “phi ngã” ở đây nên hiểu một cách rộng rãi hơn.
Chịu sự chi phối bởi tƣ tƣởng thống trị của giai cấp phong kiến, thơ ca trung đại luôn bị gò ép trong những khuôn mẫu nhất định và do đó cái tôi cá nhân cũng bị hạn chế rất nhiều. Ở đây nói “phi ngã” không có nghĩa là trong thơ ca trung đại không có cái tôi cá nhân mà thƣờng thì nó bị che khuất bởi những quy phạm nhất định. Trên thực tế, đã là thơ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 http://www.vn trƣớc hết là tiếng lòng, là sự xúc cảm nào đó của chính bản thân ngƣời sáng tác. Và thơ ca thời kỳ này cũng vậy! Có rất nhiều tác phẩm đã thể hiện một cách xúc động thế giới nội tâm sâu kín của ngƣời nghệ sĩ trƣớc thời cuộc.
So với thời Lý thì sang thời nhà Trần, tình hình thơ ca đã có sự thay đổi. Thơ thời nhà Trần là thơ nói về thế giới con ngƣời, là sự thể hiện của những trạng thái tâm hồn – cuộc sống đời tƣ của con ngƣời. Thơ ca viết về chủ đề đời tƣ đƣợc đặc biệt chú trọng từ thời nhà Trần. Khía cạnh đầu tiên của chủ đề đời tƣ thƣờng thấy trong thơ thời Trần chính là tình yêu nồng nhiệt với cuộc sống - một cuộc sống không hề cao sang.
Tuy các thi sĩ thời kì này phần lớn thuộc tầng lớp quan lại, nho sĩ nhƣng lại có khá nhiều thơ nói về cảnh sống nơi thôn dã, những cảnh sống thảnh thơi, phóng khoáng, bình dị. Các nhà thơ nói nhiều đến cuộc sống thanh bình cũng là để thỏa nỗi lòng yêu đời: Thụy khởi khải song phi, Bất tri xuân dĩ quy. Nhất song bạch hồ điệp, Phách phách sấn hoa phi. Dịch: (Ngủ dậy ngó song mây Xuân về vẫn chƣa hay.
Song song đôi bƣớm trắng, Phấp phới sấn hoa bay.) (Xuân hiểu - Trần Nhân Tông) Phải là một ngƣời yêu đời tha thiết và có tâm hồn tƣơi trẻ mới cảm nhận đƣợc mùa xuân nhƣ vậy. Đặc biệt, từ cuối thời Trần trở đi, chủ đề này đƣợc bộc lộ rất rõ trong thơ ca. Đó là tâm trạng cô đơn, trống vắng, buồn bã, thất vọng sự suy vi của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 http://www.vn triều đại, sự thất bại của công danh, trƣớc sự bế tắc của cuộc đời. Ở đó, ta đã bắt đầu thấy thấp thoáng những bóng dáng “cái tôi” qua tâm sự cá nhân của nhà thơ.
Chu Văn An ngay giữa ngày xuân ấm áp nhƣng vẫn cảm thấy giá lạnh cô đơn: Thân dữ cô vân trường luyến tụ, Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan. Thơ ông tỏ rõ sự hoài nghi: “Ngồi đợi sau này công thành danh toại, Thì một nắm xương tàn đã vùi đắp thành gò cao.” (Trong núi cảm hứng) Nhƣ vậy, bên cạnh những nỗi lo về sơn hà xã tắc thƣờng thấy trong thơ thời kỳ này, còn có cả những nỗi lo cá nhân; bên cạnh những bài thơ bộc lộ chí hƣớng, khát vọng công danh còn có những bài thấm đƣợm nỗi buồn về đƣờng đời mù mịt. Nguyễn Ức cảm thấy “Đường công danh vạn dặm chưa tỏ lối” (Đêm thu cùng bạn cũ Chu Hà kể chuyện đã qua). Trang Định vƣơng Trần Ngạc thốt lên ai oán với Trần Nguyên Đán: “Tôi nay vào hạng bỏ đi - Anh cũng chẳng phải là người tài trong thiên hạ” (Tặng Tƣ đồ Nguyên Đán).
Nguyễn Phi Khanh thì bất lực đành phải kêu trời: “Xin nhờ cái đêm trăng sáng ở trên trời kia - Soi thấu nỗi khổ của thế gian này” (Nhân tết Trung thu, cảm xúc trƣớc sự việc). Đọng lại hơn cả là một khối cô đơn, thất bại cay đắng, tủi hờn của ngƣời anh hùng lỡ vận, đầy kiêu hùng mà bi tráng Đặng Dung: Thế sự du du nại lão hà, Vô cùng thiên địa nhập hàm ca! Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 http://www.vn Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa!