Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có phần Nội dung bao gồm 3 chƣơng, các tiết, tiểu tiết và tiểu kết. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM THEO HƢỚNG TINH GỌN, HOẠT ĐỘNG HIỆU LỰC HIỆU QUẢ 1. Khái quát về hệ thống chính trị Việt Nam 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm hệ thống chính trị Trước tiên, hệ thống chính trị (political system) đƣợc tiếp cận về ngôn ngữ. Theo nghĩa Hán - Việt, hệ thống chính trị có thể đƣợc hiểu là chỉnh thể các yếu tố, ý tƣởng, quy trình, phƣơng pháp, mối quan hệ… nhằm giành lấy, điều khiển, tổ chức, thực hiện các công việc nhà nƣớc và lãnh đạo quần chúng một cách nghệ thuật, có chủ đích [71, tr. Theo nghĩa tiếng Anh, hệ thống chính trị (political system1) đƣợc hiểu là chỉnh thể các yếu tố, ý tƣởng liên quan đến quản lý, điều hành nói chung và nghiên cứu chính trị học. Tiếp theo, hệ thống chính trị còn đƣợc tiếp cận với tƣ cách thuật ngữ khoa học chính trị.
Ở nƣớc ngoài, hệ thống chính trị có thể đƣợc tiếp cận theo phạm vi rất rộng gắn với nền chính trị nói chung, ví dụ nhƣ quan điểm: “hệ thống chính trị là một hệ thống liên quan tới chính quyền và nền chính trị của nó, trong đó bao gồm những thành viên nắm giữ quyền lực của đất nƣớc” [99]. Tuy nhiên, hệ thống chính trị cũng có thể đƣợc tiếp cận theo nghĩa hẹp hơn, chỉ đề cập đến chính quyền và các thể chế, chẳng hạn nhƣ: “Hệ thống chính trị là một tập hợp những thể chế hợp pháp chính thức tạo thành chính phủ hoặc nhà nƣớc” [100]. Cách tiếp cận này tƣơng tự nhƣ nội hàm của khái niệm thể chế chính trị theo nghĩa hẹp. Đồng thời, hệ thống chính trị cũng có thể đƣợc tiếp cận toàn diện hơn về các thành tố và thể chế: “Hệ thống chính trị là một tập hợp hoàn chỉnh các thể chế, tổ chức chính trị nhóm lợi ích (nhƣ các đảng chính trị, nghiệp đoàn, nhóm vận động hành lang), những mối quan 1 System - Hệ thống là “Organized set of ideas; group of parts that are connected or work together; human and animal body, when considered as the organs and processes that it functions - Chỉnh thể các ý tưởng; nhóm các bộ phận được gắn kết và hoạt động cùng nhau; các bộ phận chức năng trên cơ thể con người hoặc động vật” [96, pg.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ giữa những thể chế này và những quy tắc chính trị và quy định mang tính chính trị điều hành chức năng của chúng (nhƣ hiến pháp, luật bầu cử)” [101]. Cách tiếp cận này giống nhƣ nội hàm của khái niệm thể chế chính trị theo nghĩa rộng. Ở Việt Nam, thuật ngữ hệ thống chính trị đƣợc sử dụng chính thức từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (tháng 3- 1989) về “Kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới”. Trƣớc hết, hệ thống chính trị đƣợc hiểu gần giống với quan niệm về hệ thống chuyên chính vô sản, ví dụ: “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể bao gồm Nhà nƣớc chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản cùng các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó, nhằm bảo đảm quyền lực của nhân dân” [6, tr.
Tiếp đến, hệ thống chính trị đƣợc quan niệm theo xu hƣớng tiếp cận về cấu trúc, chẳng hạn: “Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm các đảng chính trị, nhà nƣớc và các tổ chức chính trị - xã hội đƣợc liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức, nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền” [55, tr. Bên cạnh đó, hệ thống chính trị đƣợc định nghĩa theo xu hƣớng tiếp cận về cơ chế vận hành, cụ thể: “Hệ thống chính trị là hình thức tổ chức tổng quát nhất của chính trị và dân chủ, xác lập cơ chế thực hiện quyền lực chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân làm chủ” trên những nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội mới, với bối cảnh mới của đất nƣớc và quốc tế trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” [80, tr. Đặc biệt, hệ thống chính trị đƣợc tìm hiểu theo xu hƣớng tiếp cận khái quát và có định hƣớng về các nội dung tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, ví dụ nhƣ: “Hệ thống chính trị là sự hợp thành của hệ thống tổ chức, hệ thống các mối quan hệ giữa các tổ chức với xã hội (trên - dƣới, ngang - dọc) và hệ thống các cấp độ (Trung ƣơng - địa phƣơng - cơ sở) nhằm thể hiện các quan hệ chủ thể quyền lực (Đảng - Nhà nƣớc - Nhân dân) với sự phân định rành mạch chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền mà mục đích cao nhất là xây dựng, phát triển nền dân chủ, thực hiện và bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân” [5]. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, từ những cách tiếp cận và các quan điểm trên, hệ thống chính trị có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Hệ thống chính trị là một bộ phận của chính trị, thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm một chỉnh thể các thiết chế chính trị - xã hội hợp pháp (nhà nước, đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội) cùng với cấu trúc, cơ chế vận hành, đặc trưng của chúng nhằm đại diện và thực thi quyền lực chính trị đồng thời thực hiện các nhiệm vụ đối nội, đối ngoại của đất nước, khu vực hoặc toàn cầu.
Khái niệm hệ thống chính trị Việt Nam và các khái niệm liên quan Căn cứ vào Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và dựa vào khái niệm hệ thống chính trị nhƣ trên, hệ thống chính trị Việt Nam có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Hệ thống chính trị Việt Nam là một bộ phận của chính trị Việt Nam thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội Việt Nam, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác, cùng với cấu trúc, cơ chế vận hành, đặc trưng của chúng được tổ chức từ trung ương đến địa phương nhằm đại diện và thực thi quyền lực chính trị của nhân dân Việt Nam đồng thời thực hiện các nhiệm vụ đối nội, đối ngoại của nước Việt Nam. Khi tìm hiểu về hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Nam nói riêng, chúng ta cũng cần tìm hiểu về những khái niệm liên quan nhƣ: cấu trúc, cơ chế vận hành, đặc trƣng, thiết chế, đảng chính trị, nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, quyền lực chính trị, nhiệm vụ đối nội, đối ngoại. Cụ thể: Cấu trúc hệ thống chính trị là sự sắp xếp các thiết chế chính trị - xã hội hợp pháp (nhà nƣớc, đảng chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội) và mối quan hệ của chúng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Cơ chế vận hành hệ thống chính trị là cách thức hoạt động của hệ thống chính trị phù hợp với mục đích, chức năng, nhiệm vụ trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Đặc trưng hệ thống chính trị là những thuộc tính riêng, tiêu biểu của một hệ thống chính trị, mà dựa vào đó có thể phân biệt với các hệ thống chính trị khác. Thiết chế chính trị - xã hội là khái niệm chỉ các cơ quan, các chế tài trong một hợp thể quyền lực 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính trị, xã hội; là một bộ phận của hệ thống chính trị. Đảng chính trị là một tổ chức tự nguyện, đại diện cho các giai cấp hoặc nhóm xã hội nhất định theo một hệ tƣ tƣởng nhất định, với mục tiêu hoạt động, giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nƣớc. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách với chức năng cơ bản là quản lí điều hành, kiến tạo môi trƣờng, chính sách, điều kiện cho xã hội phát triển và quản lý quá trình phát triển xã hội.
Các tổ chức chính trị - xã hội là tập hợp những cá nhân, tổ chức có cùng đặc điểm, lợi ích hoạt động trên nguyên tắc hiệp thƣơng, tự nguyện với mục tiêu bảo vệ lợi ích chung. Quyền lực chính trị là khả năng của cá nhân, giai cấp, chính đảng trong việc sử dụng biện pháp chính trị, thiết chế chính trị… thực hiện ý chí của mình đối với xã hội. Những nhiệm vụ đối nội, đối ngoại của quốc gia có thể đƣợc hiểu là những việc cần làm của quốc gia để duy trì sự tồn tại, phát triển và ảnh hƣởng bên trong, bên ngoài lãnh thổ quốc gia đó. Đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam 1.
Khát lược về lịch sử của hệ thống chính trị Việt Nam từ năm 1945 đến nay Hệ thống chính trị Việt Nam hoàn tất quá trình hình thành trong những năm 1945 - 1946. Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) là đảng lãnh đạo, cầm quyền. Quốc dân Đại hội (08/1945) và Chính phủ Lâm thời nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/09/1945) là hình thức Nhà nƣớc đầu tiên. Mặt trận Việt Minh (1941) cùng các tổ chức thành viên cứu quốc là MTTQ và các TCCTXH.
Năm 1946, Hiến pháp nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đƣợc công bố, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đƣợc thực hiện đánh dấu hoàn thiện sự ra đời của hệ thống chính trị Việt Nam hiện đại kiến tạo những bƣớc phát triển mới cho Việt Nam với các giá trị nhƣ độc tập, dân chủ, pháp quyền và chủ quyền. Hệ thống chính trị Việt Nam tiếp tục cải thiện và thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc trong những năm 1946 - 1954. Sau những năm 1946 - 1951 lui vào hoạt động bí mật, Đảng Cộng sản Việt Nam trở lại hoạt động công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam. Nghị viện cùng Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Hội 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.